Đại Hội XI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

Các chuyên mục cũ Tiêu điểm
Thứ bảy, 15/1/2011 9:51 GMT+7
Cần phải có chính sách và giải pháp mạnh mẽ, có hiệu quả để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế “thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp gắn với các vùng “kinh tế” đề ra trong dự thảo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020” thông qua việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.


Kiến nghị này được đưa ra trong tham luận của đoàn đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh tại Đại hội lần thứ XI của Đảng do đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, trình bày.

Tham luận của đoàn đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh tại Đại hội lần thứ XI đề xuất những nhóm chính sách và giải pháp cần tập trung, cụ thể sau đây :

1. Đổi mới tư duy về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thông qua việc sử dụng công cụ quy hoạch, kế hoạch phù hợp với sự vận hành của cơ chế thị trường

Đổi mới công tác kế hoạch nhằm xác định rõ những nội dung kinh tế - xã hội mà mỗi cấp chính quyền cần hoạch định; đồng thời tính toán sự cân đối các nguồn lực tương ứng với các mục tiêu đã xác định, nhằm định hướng cho thị trường phát triển. Đổi mới công tác quy hoạch và kế hoạch thực chất là xác định lại vai trò của Nhà nước trong suốt quá trình dẫn dắt thị trường phát triển theo mục tiêu của mình. Do đó, một trong các nhiệm vụ quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch là dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển nền kinh tế đất nước, nhằm định hướng hoạt động cho doanh nghiệp. Về các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cần tập trung vào các chỉ tiêu phát triển bền vững như các chỉ tiêu về an sinh xã hội, môi trường…, vì các chỉ tiêu về kinh tế, xét cho cùng chỉ là phương tiện, chính các chỉ tiêu về an sinh - xã hội mới là mục tiêu của phát triển. Đề nghị sớm xây dựng đạo luật về kế hoạch hóa trong đó xác định rõ nội dung: làm gì, làm cách nào, vào lúc nào và ai làm đối với từng cấp chính quyền có đặc điểm khác nhau (chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn…).
Trong chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp cần thực hiện theo nguyên tắc: Nhà nước sử dụng các chính sách, biện pháp và công cụ để tác động phát triển thị trường theo đúng định hướng; chính thị trường sẽ tác động đến định hướng đầu tư của doanh nghiệp (trên cơ sở quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh), Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, Nhà nước xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp trong việc thực thi pháp luật và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Sử dụng hiệu quả công cụ chính sách kinh tế - tài chính để thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nội bộ các ngành kinh tế

Tiếp tục nghiên cứu đổi mới các chính sách kinh tế - tài chính, đặc biệt là chính sách về tín dụng, thuế, phí, đất đai, đầu tư công, cung ứng dịch vụ công… nhằm khuyến khích có điều kiện, để thúc đẩy các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm và hình thành những “cụm liên kết sản xuất”, nhằm chuyển nền công nghiệp từ gia công sang sản xuất. Kinh nghiệm của nhiều nước thành công trong việc chuyển nền kinh tế từ giai đoạn gia công sang giai đoạn sản xuất là sử dụng linh hoạt và hiệu quả chính sách thuế để định hướng đầu tư cho doanh nghiệp. Trong những năm qua, thành phố đã có một số kinh nghiệm về hỗ trợ doanh nghiệp chuyển dịch hướng đầu tư kinh doanh, đầu tư vào kết cấu hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường thông qua các chính sách sử dụng đất, hỗ trợ tín dụng… có hiệu quả, nhưng vẫn còn hạn chế chính sách chung ở tầm vĩ mô. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định liên quan đến mô hình công - tư đối tác (PPP) là rất cần thiết, nhưng cần được xem xét ở khung pháp lý cao hơn vì có liên quan đến chính sách thuế và đất đai.

3. Sử dụng các tổ chức kinh tế của Nhà nước như công cụ để khắc phục và hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường

Mô hình kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại những khuyết tật cố hữu, gắn liền với bản chất của nó mà chúng ta thường gọi là mặt trái của thị trường. Năng lực quản trị hiệu quả của Nhà nước thể hiện ở khả năng sử dụng các công cụ để hạn chế những hệ quả tiêu cực do các “khuyết tật” đó gây ra. Sử dụng các tổ chức kinh tế của Nhà nước chính là sự can thiệp vào thị trường bằng sức mạnh vật chất của Nhà nước. Do đó, vấn đề tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty chính là “tái cấu trúc” lực lượng này để làm tốt vai trò tham gia điều tiết thị trường, cung cấp tốt hơn các loại “hàng hóa và dịch vụ công cộng” phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Do đó, có nhiều lãnh vực cần sự can thiệp mang tính chủ đạo của lực lượng kinh tế Nhà nước như cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng; các ngành kinh tế có hiệu quả sinh lời thấp, nhưng cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa như cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, đầu tư kết cấu hạ tầng, đầu tư cho thị trường bất động sản sơ cấp, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghiệp công nghệ cao… Nhà nước cần thể hiện quyết tâm chính trị trong chính sách quản lý, đầu tư phát triển, chứ không phải để mặc doanh nghiệp Nhà nước cân nhắc hiệu quả tài chính đơn thuần.

4. Chuyển cơ cấu kinh tế địa phương sang cơ cấu kinh tế vùng, tạo động lực phát triển kinh tế cả nước

Trong giai đoạn tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhiều tỉnh đã từng được mở rộng về quy mô diện tích để xây dựng thành những nền kinh tế có cơ cấu hoàn chỉnh (công - nông nghiệp), nhưng khi chuyển qua nền kinh tế thị trường, tư duy cơ cấu kinh tế vẫn chưa thật sự đổi mới, dù một số tỉnh đã được chia thành các tỉnh nhỏ hơn. Trong khi, chúng ta chủ trương xây dựng các vùng kinh tế, đặc biệt là 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền, nhưng trên thực tế vẫn chưa có chính sách và cơ chế vận hành để thúc đẩy phát triển sự phát triển kinh tế vùng. Tình trạng trên dẫn đến sự phân tán nguồn lực quốc gia; đầu tư công và cả đầu tư tư nhân cũng bị dàn trải; các vùng kinh tế trọng điểm vẫn chưa có được sức mạnh của liên kết vùng. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần nhìn ở quy mô nền kinh tế quốc gia và tiềm năng các vùng kinh tế để có sự liên kết về chức năng kinh tế của chính quyền địa phương.

TPHCM với vị trí địa lý và quá trình phát triển trong lịch sử có mối quan hệ kinh tế mật thiết với vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ và Tây Nguyên và trong phạm vi hẹp hơn, thành phố đã và đang có vai trò, vị trí “hạt nhân” trong mối quan hệ “mang tính cơ cấu” của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nếu có chính sách thúc đẩy và cơ chế điều hành phù hợp trong quy hoạch, quản lý quy hoạch, đầu tư phát triển, nhất là kết cấu hạ tầng, phân bổ lực lượng sản xuất… sẽ nâng cao được chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; đồng thời tạo động lực cho sự phát triển của cả miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long.
Sơn Hà