Trước hết, ông nghĩ gì về sự phát triển của CNTT và ứng dụng của nó trong mọi lĩnh vực nói chung và mối quan hệ với ngôn ngữ học nói riêng?
Phải thừa nhận rằng CNTT là ngành khoa học đang phát triển với một tốc độ rất nhanh và có những tác động rất lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội từ Chính phủ Điện tử ở tầm vĩ mô tới những ứng dụng thông thường nhất như gửi e-mail, chat… mà tất cả mọi người đều đang dùng. Đương nhiên, phương tiện giao tiếp trên môi trường đó chính là ngôn ngữ. Trong xã hội mà chúng ta đang sống, ngôn ngữ là thứ mà ai cũng sử dụng giống như không khí để thở. Rõ ràng là ai cũng cần không khí để thở nhưng dường như chẳng mấy ai chịu nghĩ đến nó, trừ phi mà bầu không khí quá ô nhiễm như ở một số nước công nghiệp phát triển thì người ta mới có nhu cầu phải trả tiền để hít thở dưỡng khí và đương nhiên phải trả tiền để được hưởng thụ. Với ngành NNH phần nào cũng là như vậy.
Như đã đề cập thì chỗ nào CNTT hiện diện thì chỗ đó không thể thiếu ngôn ngữ học và có thể nói, mối quan hệ giữa CNTT và NNH hệt như hai mặt của một tờ giấy, không thể thiếu được nhau. Cũng phải thừa nhận một thực tế là ngành NNH ít tham gia vào các hoạt động của ngành CNTT bởi những lý do cả chủ quan lẫn khách quan. Tuy nhiên, trong bối cảnh mà công nghệ dịch thuật bắt đầu bùng nổ với những công cụ được cung cấp trên mạng Internet mà điển hình là của Google thì ngành NNH chúng tôi tất yếu phải chủ động hơn. Để dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt dẫu sao vẫn dễ thực hiện hơn do được thừa hưởng các công cụ phân tích có sẵn. Nhưng để dịch theo chiều ngược lại thì vấn đề sẽ chỉ thực hiện được nếu như các chuyên gia CNTT biết tranh thủ các kết quả nghiên cứu của ngành NNH. Để đi đến được sự hội tụ đó, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam cũng sẽ tăng cường thêm các mối quan hệ với ngành CNTT và cũng sẵn sàng mở rộng cửa để đón nhận sự tham gia của các chuyên gia tin học, đặc biệt là những người đã và đang thực hiện những sản phẩm liên quan đến NNH.
Là chuyên gia NNH, ông nghĩ gì về ứng dụng CNTT cho công việc chuyên môn của mình nói riêng và với ngành NNH nói chung?

TS Dương Kỳ Đức
|
Tôi là chuyên gia về về lĩnh vực từ điển và không cần phải nói thì ai cũng biết, với một cuốn từ điển cỡ nhỏ nhất thì cũng phải vào cỡ 20.000 từ. Nếu quá trình biên soạn mà làm việc thủ công thì sẽ rất mất thời gian mà không thể tránh khỏi sai sót, chí ít là trong việc sắp xếp theo đúng thứ tự các từ của từ điển. Bởi thế, một bậc thầy người Nga của ngành NNH đã phải thốt lên rằng, với các loại tội phạm khổ sai, thay vì những hình phạt mà pháp luật đã quy định thì nên cho họ sang làm từ điển (!). Chính vì vậy, CNTT đã trở thành một công cụ lao động rất có giá trị với các chuyên gia từ điển học nói riêng và ngành NNH nói chung. Nhờ có CNTT, các nhà NNH có thể làm được rất nhiều việc khác nữa…
Trên thị trường, ngoài các cuốn sách in về từ điển còn có các bộ từ điển điện tử dưới dạng đĩa CD và với phần đông người sử dụng thì nó rất được ưa dùng so với sách in. Ông nghĩ gì về các sản phẩm này?
Nói về thị trường xuất bản nói chung, tôi có thể khẳng định là nạn “đạo văn” đang tồn tại lớn nhất với chủng loại từ điển. Để kiểm chứng điều này là hoàn toàn không khó và thậm chí sự sao chép còn thực hiện tới mức là chép nốt cả chỗ sai. Bởi thế, nguồn dữ liệu với các loại từ điển điện tử cũng hoàn toàn là trong tình trạng chung. Có khác là ở chỗ dung lượng dữ liệu lớn hơn và tra cứu nhanh hơn. Và thực tế, các loại từ điển điện tử đang lưu hành cũng chưa hề được các cơ quan chuyên trách về từ điển thẩm định, đánh giá. Tuy nhiên, dẫu sao chúng tôi vẫn đánh giá cao những nỗ lực của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này vì nhờ có họ mà người sử dụng thay vì phải mất thời gian lật từng trang từ điển để tra cứu một từ nào đó thì nay chỉ cần gõ từ đó là sẽ có ngay kết quả cần tìm.
Vậy ông nghĩ gì và có mong muốn gì về tương lai của NNH trong bối cảnh mà CNTT đã và đang trở nên rất phổ biến và thâm nhập vào mọi lĩnh vực?
Như tôi đã nói “CNTT và NNH là không thể tách rời nhau như hai mặt của một tờ giấy”. Tuy nhiên, giữa hai ngành này lại đang tồn tại một khoảng cách khá lớn. Nguyên nhân một phần vì sự phân chia hành chính coi CNTT là khoa học tự nhiên còn NNH là khoa học xã hội. Tuy nhiên, thực tế chắc chắn là không phải như vậy và vấn đề đang tồn tại hiện nay phải có sự cải thiện về nhận thức ở tầm vĩ mô. Đáng mừng là lớp trẻ đã chủ động chỉ ra những tồn tại đó và tích cực đấu tranh để “Xử lý tiếng Việt” trở thành một nhiệm vụ của Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT mà Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành cuối năm 2010. Trong quá trình đó, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã đồng hành cùng Hội Trí thức Khoa học & Công nghệ Trẻ Việt Nam để thúc đẩy tiến trình. Những việc cần phải làm và có thể làm, chắc chắn là rất nhiều và chỉ riêng để nhất trí được một tiêu chuẩn thống nhất về chính tả tiếng Việt trên môi trường CNTT cũng đã là không đơn giản, nhất là những đề xuất của TS Quách Tuấn Ngọc – Cục trưởng Cục CNTT Bộ GD-ĐT cho việc phải thừa nhận các ký tự F, J, W, Z với tiếng Việt hiện đại đã bị rất nhiều người phản đối mà đến nay vẫn chưa được thảo luận chính thức để có được kết luận mang tính thuyết phục.
Tuy nhiên, sự việc đó cũng có phần tích cực là đã làm xã hội phải quan tâm đến mối quan hệ của 2 mặt không thể tách rời như một tờ giấy mà trong đó, chính các chuyên gia NNH phải quan tâm hơn đến CNTT. Theo tôi, bản thân họ cần phải chủ động hơn trong việc nghiên cứu về CNTT thay vì chỉ phê phán, bức xúc cho việc không được mời tham gia các đề tài khoa học của ngành CNTT có liên quan đến NNH. Tôi cũng xin nói thêm là trước những thực tế mang tính liên ngành không chỉ với riêng NNH, nếu các thế hệ bậc thầy không chủ động nghiên cứu thì khó lòng có trò theo gương và dám chủ động làm. Dẫu vậy, nếu lớp trẻ biết liên kết, dám chịu trách nhiệm và có sự ủng hộ của các thế hệ đi trước thì tất yếu là những nghiên cứu mang tính liên ngành đó sẽ có đà tiến triển. Chính vì vậy, tôi rất kỳ vọng ở lớp trẻ cho tương lai tất yếu này. Dẫu vậy, Nhà nước vẫn phải đóng vai trò quyết định cho các vấn đề mang tính liên ngành, nhất là cho mối quan hệ này. Việc chưa có được chuẩn chính tả thống nhất của tiếng Việt trong môi trường CNTT là vấn đề tồn tại suốt hơn 20 năm qua kể từ ngày máy vi tính xuất hiện và việc này không nên tiếp tục kéo dài thời gian. Cùng với việc đó, việc cần làm là cụ thể hoá cho nhiệm vụ “Xử lý tiếng Việt”. Không xong được việc này, khó lòng có thể kỳ vọng để Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT.
Cám ơn ông và tin tưởng cho lộ trình cụ thể hoá nhiệm vụ “Xử lý tiếng Việt” sẽ được Chính phủ sớm quan tâm để các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực cùng tham gia xây dựng.
Tân Khoa thực hiện