(Tamnhin.net) - Chẳng mấy khó khăn để có thể tìm thấy các cử nhân tốt nghiệp các chuyên ngành CNTT đang trong tình trạng thất nghiệp hoặc chưa kiếm được việc làm theo đúng chuyên ngành mà họ đã theo học.
 |
|
|
Đâu phải cứ học CNTT là chỉ để làm việc cho doanh nghiệp về CNTT?
Không ít sinh viên tốt nghiệp ngành này đã “vỡ mộng” vì lúc đăng ký theo học không nắm rõ thông tin, cứ tưởng CNTT vẫn còn “thời thượng” . Vì sao họ “vỡ mộng”? Có lẽ vì thiếu thông tin cho một cái nhìn toàn cảnh nên những sinh viên này đã ôm mộng rằng đã theo học ngành CNTT thì phải làm việc cho những cơ quan, doanh nghiệp chuyên sâu về CNTT. Tuy nhiên, những mộng tưởng như thế chắc chắn là hết sức sai lầm vì nếu ngành luật cũng có suy nghĩ kiểu đó thì tất cả những ai tốt nghiệp cử nhân luật đi làm luật sư hết chăng (!).
Tuy nhiên, cũng tội nghiệp cho các em sinh viên bởi họ đâu có biết gì về vai trò, vị trí đích thực của CNTT trong xã hội. Trách nhiệm ở đây có lẽ thuộc về các nhà hoạch định chính sách và quản lý không chỉ của riêng ngành CNTT.
Theo phân tích của chiến lược phát triển CNTT-TT Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010, CNTT-TT gồm 4 trụ cột là hạ tầng CNTT-TT; ứng dụng CNTT; công nghiệp CNTT và nhân lực CNTT-TT. Như vậy, trụ cột của nhân lực CNTT-TT đương nhiên cũng phải tương thích với 3 trụ cột còn lại và như thế, nguồn nhân lực cho CNTT-TT không chỉ là duy nhất với công nghiệp CNTT (trong đó có sản xuất, gia công phần mềm) mà còn phải thoả mãn cả cho hạ tầng CNTT-TT và ứng dụng CNTT. Cách hiểu của không ít sinh viên cho rằng học CNTT thì cứ phải làm việc cho doanh nghiệp, cơ quan nhà nước về CNTT mới là đúng chuyên môn có lẽ cũng một phần bởi những tuyên truyền thái quá cho nhu cầu gia công, xuất khẩu phần mềm. Song cũng phải thấy rằng dù nhu cầu tuyển dụng là rất lớn nhưng đòi hỏi về chuyên môn và ngoại ngữ cũng là rất cao vì đã là gia công phần mềm cho nước ngoài thì nhân lực tham gia phải thích ứng với các công nghệ mới nhất. Trong khi đó, những kiến thức được nhà trường cung cấp cùng các công cụ lập trình chắc chắn là không thể theo kịp đòi hỏi đó. Vì thế, trước những dư luận thái quá cho nhu cầu nhân lực để gia công, xuất khẩu phần mềm vào năm 2005, TS Mai Liêm Trực – Thứ trưởng Thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông khi đó đã ngắn gọn nói rằng: Thực ra thì sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT ngoài việc có thể tham gia thị trường này còn phải phục vụ rất nhiều nhu cầu đa dạng của xã hội với CNTT.
Đương nhiên, thị trường nhân lực cho ứng dụng CNTT có thể thấy ngay là rất rộng lớn và hết sức đa dạng. Tuy nhiên để có thể tham gia được là không dễ vì cũng phải có những hiểu biết đủ mức cần thiết về nó. Song TS Mai Anh – nguyên Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam lại đưa ra nhận xét: Trong khi sinh viên các ngành học khác được học thêm các kiến thức về CNTT để bổ trợ, ứng dụng cho lĩnh vực chuyên môn của mình thì sinh viên ngành CNTT lại dường như không được học các kiến thức của những ngành khác có nhu cầu ứng dụng CNTT. Rất giỏi về lập trình nhưng không biết lập trình cho cái gì thì sao gọi là giỏi được.
Qua những thực tế của sinh viên ngành CNTT không tìm được việc làm ở những nơi mà họ đã trót kỳ vọng cùng hoàn cảnh thất nghiệp hoàn toàn có thật của sinh viên ngành CNTT, đã đến lúc cần phải có xúc tiến, thúc đẩy việc nhận thức lại cho đúng về vai trò và ý nghĩa của CNTT-TT trong đời sống và xã hội. Sự thay đổi đó trước hết phải xuất phát từ những nhà quản lý, hoạch định chính sách và cho chính những người thày… rồi mới đến chính bản thân đối tượng sinh viên. Tuy nhiên, ai có thể đứng ra làm được việc này nếu như bản thân sinh viên không tự ý thức được về bến bờ tương lai của chính mình. Vậy sẽ phải chờ… ai?
Tân Khoa