Trong năm vừa qua, Bộ GD-ĐT xét chọn và khen thưởng 305 công trình NCKH do 716 sinh viên thực hiện, trong đó có 15 giải nhất, 27 giải nhì, 130 giải ba và 133 giải khuyến khích. Con số này quả đáng báo động về công tác dạy học và hướng dẫn sinh viên tham gia NCKH ở trường đại học trong khi các ĐH đang tiến tới mô hình trường đại học nghiên cứu, đào tạo gắn kết với các doanh nghiệp, tổ chức xã hội.
Dẫu vậy, cũng cần phải nhìn nhận nghiêm túc về thực trạng nghiên cứu khoa học của cả thầy và trò mà trong đó có lẽ cũng không nên kỳ vọng quá cao cho những nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trước hết, các nghiên cứu khoa học trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải xuất phát từ thực tiễn và mang tính mở chứ không thể là đóng không trong các giáo chính của nhà trường. Để thúc đẩy được việc đó thì trước hết cả sinh viên và giảng viên phải thường xuyên được cập nhật về tình hình thời sự khoa học đang diễn ra xung quanh họ. Điều đó có nghĩa là bên cạnh những kiến thức được cung cấp trong chương trình học thì cần phải có thêm các buổi toạ đàm, hội thảo khoa học với sự tham gia của các đối tác bên ngoài nhà trường.
Tại các trường lớn như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Ngoại thương, ĐH Kinh tế Quốc dân, ĐH Xây dựng… những hoạt động này tuy có nhiều hơn các trường khác nhưng về cơ bản thì nó được tổ chức là do nhu cầu tiếp thị của các tổ chức bên ngoài chứ cũng chưa thực sự là vì nhu cầu nội tại của bản thân sinh viên trong trường. Còn lại, với không ít trường thì có thể nói rằng hoạt động ngoại khoá về khoa học cho sinh viên gần như là con số 0 tròn trĩnh (!). Còn với các tạp chí khoa học chuyên ngành thì những người thầy thường xuyên đọc có thể thống kê được cũng chiếm một tỷ lệ không cao và với sinh viên thì chắc chắn sẽ còn thấp hơn.
Có thể nói, trong bối cảnh mà khoa học công nghệ đang phát triển chóng mặt mà với cách thức dạy và học ở các trường như hiện nay thì khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn sẽ ngày một xa nếu không có biện pháp cải thiện. Bởi thế, việc phải có những chính sách để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của cả thầy lẫn trò đang là thực tế phải đặt ra. Để làm được việc này, ngoài vai trò của các tổ chức trong nhà trường của cả thầy và trò… thì rất cần có sự tham gia, xúc tiến, hỗ trợ của các tổ chức ngoài nhà trường để kết nối với các nhu cầu thực tiễn cùng những nguồn lực đầu tư có thể.
Tuy nhiên, nếu đòi hỏi để sinh viên nghiên cứu ra sản phẩm thì có lẽ là không thực tế bởi ngay cả với đội ngũ bậc thầy thì vẫn còn có những hạn chế nhất định. Trước những thực tiễn và những định hướng tương lai của khoa học, nhiều lúc chỉ cần hiểu được vấn đề cũng đã là tốt lắm rồi và với sinh viên thì đó cũng là nghiên cứu. Vì thế, ngành giáo dục và các trường nên đưa ra các chỉ tiêu để thi đua cho cả thầy lẫn trò để nắm bắt được những thực tiễn liên quan đến chuyên môn để ít nhất có được những báo cáo, thuyết trình nhằm làm sáng tỏ vấn đề thay vì chỉ “đóng khung” trong những bộ giáo trình chính thức của các môn học mà tất yếu không tránh khỏi sự lạc hậu so với thực tiễn. Về phía các doanh nghiệp, cần coi đây là trách nhiệm cho việc đào tạo nguồn nhân lực mà chính họ là đối tượng được thụ hưởng. Chi phí cho việc đó của doanh nghiệp phải được coi là đầu tư cho nguồn nhân lực tương lai, là đóng góp vào quá trình đào tạo của nhà trường và ít nhất cũng là để PR cho chính mình.
Còn về phía nhà trường thì cũng cần có một thái độ cởi mở hơn để đón nhận những sự hợp tác, hỗ trợ đó từ bên ngoài. Chắc chắn rằng, nếu tạo được một môi trường của sự ham học hỏi như vậy thì số lượng các đề tài nghiên cứu khoa học của cả thầy lẫn trò sẽ lớn hơn rất nhiều hiện nay và cũng làm giảm bớt nỗi bức bí về nguồn nhân lực cho không ít công việc mang tính thực tiễn ở bên ngoài nhà trường. Đương nhiên, một khi làm được việc đó thì vấn nạn sao chép luận văn của sinh viên sắp tốt nghiệp cũng không thể còn “đất dụng võ” được nữa bởi khi đó sẽ phải là những đề tài mới chứ không thể là một danh sách khuyến cáo lựa chọn năm sau cũng chẳng có gì khác năm trước.
Tân Khoa