Câu chuyện của ông Hwan sẽ khiến nhiều người nghĩ đến việc tuyển dụng và sử dụng cán bộ ở xứ ta qua các thời kỳ.
Ngoại trưởng Yu Myung Hwan nói lời xin lỗi công chúng về những tranh cãi xung quanh việc tuyển dụng con gái mình - Ảnh: AFP
Bên cạnh tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” thì từ xưa, nước ta đã rất coi trọng chuyện “hồi tỵ”. “Hồi” là đi trở về; “tỵ” là lánh ra.
Luật Hồi tỵ là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức bộ máy chính quyền thời phong kiến, bắt đầu được đặt ra từ thời vua Lê Thánh Tông và hoàn thiện vào thời vua Minh Mạng (nhà Nguyễn), tiếp tục được thực hiện vào
Theo đó, những người có cùng quan hệ huyết thống, đồng hương, thầy trò, bạn bè…không được cùng làm quan hay làm việc ở một địa phương, công sở. Nếu gặp một trong những trường hợp trên thì phải tâu báo lên để thuyên chuyển những người thân thuộc đó đi các nơi khác nhau.
Trong Quốc triều hình luật (thời Lê) có một số điều quy định hồi tỵ là:
- Quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản;
- Không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm;
- Quan lại không được tậu đất, vườn ruộng, nhà tại nơi cai quản;
- Quan lại không được lấy người cùng quê làm người giúp việc;
- Người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một công sở.
Luật Hồi tỵ thời Lê Thánh Tông còn thực thi nghiêm ngặt trong các kỳ thi hương, thi hội; áp dụng với cả đội ngũ viên chức ở cấp xã. Năm Hồng Đức thứ 19 (Mậu Thân, 1488), nhà vua đã xuống chiếu: Hễ là anh em ruột, anh em con chúc con bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ có một người được làm xã trưởng, không được cùng làm để trừ mối tệ bè phái hùa nhau.
Hình chỉ mang tính minh họa
Tám năm sau, quy định này được mở rộng ra với cả những người là con cô con cậu, con dì con già và những người có quan hệ thông gia: trường hợp này nếu đã cùng làm xã trưởng rồi thì phải chọn người nào có thể làm được việc cho lưu lại, còn thì cho về làm dân. Biện pháp này có tác dụng ngăn chặn tệ lợi dụng quan hệ thân tộc, vây bè kéo cánh cả về phía họ ngoại và thông gia trong việc nắm giữ các chức danh trong bộ máy hành chính, nhằm thao túng làng xã.
Trong các triều đại phong kiến sau đó, vua Minh Mạng là người thực hiện luật hồi tỵ triệt để hơn cả. Năm 1831, vua ban hành Luật Hồi tỵ quy định:
Khi bố trí quan về trị nhậm tác các địa phương cần phải tránh những nơi: Quê gốc (quê cha) là nơi có quan hệ họ nội nhiều đời sống; Trú quán là nơi bản thân đã ở lâu, học hành, sinh hoạt; Quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ là nơi theo học trước đây).
Triều đình không được bổ dụng quan lại về một trong những địa phương quy định trên…Nếu ai man trá sẽ bị nghiêm trị.
Ngoài các điểm chung như luật hồi tỵ thời Lê Thánh Tông, Minh Mạng còn có nhiều quy định tích cực và triệt để hơn, là:
- Các dịch lại ở các nha môn, các bộ ở Kinh đô và các tỉnh là bố con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác;
- Các quan lại không được làm quan ở nơi cư trú (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình; thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ, huyện là quê hương của mình.
- Các lại mục, thông lại các nha phủ thuộc phủ huyện là người cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nơi khác.
- Các quan viên từ Tham biện trở lên ở các trấn, tỉnh về Kinh đô dự đình nghị, song trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà mình trị nhậm thì không được vào dự.
Đến năm 1836 Luật lại được bổ sung khắt khe hơn: Các quan đầu tỉnh như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Đốc học đều không được cử những người cùng chung một quê. Trong từng Bộ, Nha, Sở, Cục không được bố trí những người có quan hệ cha – con, anh – em, thông gia, thầy – trò, họ hàng thân thiết… Khi thanh tra, thụ lý án, nếu trong đó có tình tiết liên quan đến người thân phải bẩm báo để triều đình cử người khác thay thế. Quan lại không được coi thi, chấm thi ở nơi nào có những người ruột thịt, thân quen ứng thí. Nếu có, phải tâu trình thay người khác. Nghiêm cấm các quan đầu tỉnh không được đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với đàn bà, con gái nơi mình trị nhậm, cấm tậu nhà, tậu ruộng….trong địa hạt cai quản của mình…
Năm 1886, vua Đồng Khánh (trị vì từ 1885-1888) định rằng “…trong cùng một bộ hay cùng một tỉnh, đều là người quê quán cùng một hạt, hoặc là nơi có bốn người cùng làm việc mà đến ba người là quên quán cùng một hạt, thì cũng cho hồi tỵ…” (Đại Nam điển lệ).
Gần đây, khi câu chuyện Vinashin vở lở, ông Phạm Thanh Bình (nguyên chủ tịch HĐQT) đã bổ nhiệm con trai mình giữ vị trí quan trọng trong tập đoàn. Rồi vụ án Mai Văn Dâu (nguyên thứ trưởng Bộ Thương mại) có con là Mai Thanh Hải cũng làm tại Bộ…
Một khi nhận con cháu vào làm việc (chẳng hạn như chồng (bố) cấp trên, vợ (con) cấp dưới, sẽ khó tránh khỏi tình trạng nâng đỡ, kéo bè kết cánh, thậm chí là nương tay khi xử lý sai phạm.
Phải chăng, luật hồi tị chỉ còn là câu chuyện xưa cũ…?