Thu hồi đất không tiến hành đo đạc thực địa
Năm 1991, ông Phùng Đức Tùng, thương binh hạng ¼ (81%) mua mảnh đất 160 m2 của ông Phan Đức Anh giáp mặt đường tại ngã tư quán Bà Viên (thị trấn Đức Thọ, Hà Tĩnh). Ngày 15/6/1991, UBND xã Đức Yên đã cấp cho ông Tùng GCNQSD đất tại vị đó ghi diện tích 160 m2.

Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất được lập vào năm 2002
không có ngày tháng, dòng chữ “Phùng Đức Tùng” (chủ sử dụng đất) theo
ông Tùng là giả mạo cũng chưa được làm rõ.
|
Sau khi làm nhà ở, do ô nhiễm từ nguồn nước của nghĩa trang, năm 1992, ông Tùng có làm đơn xin hỗ trợ kinh phí gửi xã Đức Yên để cải tạo, sử dụng 200 m2 đất hoang phía sau và được ông Nguyễn Thế Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Đức Yên đồng ý, ký vào đơn (ngày 28/7/1992).
Như vậy, theo ông Tùng trình bày, sau khi đắp nền, cải tạo đất vào năm 1992, tổng diện tích đất của ông Tùng đưa vào sử dụng là 360 m2.
Năm 1994, khi sáp nhập HTX Mai Hồ về thị trấn Đức Thọ, UBND xã Đức Yên đã bàn giao trên giấy tờ lô đất ghi của ông Tùng có diện tích 108 m2 (theo hồ sơ quy hoạch cấp đất cho hộ Phan Đức Anh). Năm 2002, tổ đo đạc bản đồ địa chính xác định diện tích đất của hộ Phùng Đức Tùng là 234 m2. Nhưng ông Tùng phản ánh tại thời điểm đo đất không có mặt ông và dòng chữ “Phùng Đức Tùng” xác nhận trong biên bản đo đạc không phải là chữ của ông, nên con số 234 m2 không phản ánh đúng diện tích đất ông đang sử dụng.
Năm 2005, thực hiện dự án mở rộng ngã tư Yên Trung, UBND huyện Đức Thọ thành lập Hội đồng đền bù GPMB tiến hành thu hồi đất, áp giá đền bù cho các hộ. Tại thời điểm thu hồi đất, Hội đồng đền bù GPMB huyện căn cứ vào hồ sơ đo đạc địa chính năm 2002 (đã nói ở trên) để xác định diện tích đất thu hồi chứ không đo đạc trên thực địa mặc dù ông Tùng đã nhiều lần yêu cầu. Ông Tùng khiếu nại, Hội đồng đền bù GPMB huyện tổ chức làm việc nhiều lần, yêu cầu ông Tùng cung cấp hồ sơ giấy tờ đất đai nhưng ông Tùng không đáp ứng nên Hội đồng này đã không tiến hành đo đất để đền bù.
Đây là việc làm không đúng với quy định về thủ tục, trình tự thu hồi đất được quy định tại Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 “Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” (văn bản có giá trị áp dụng tại thời điểm thu hồi đất của ông Tùng). Văn bản này (Thông tư 116) quy định nguyên tắc bồi thường đất như sau: “Diện tích đất được bồi thường là diện tích được xác định trên thực địa - thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất” (mục 1, phần II “Bồi thường, hỗ trợ về đất”).
Trong văn bản này không quy định trường hợp nào khi thu hồi, bồi thường về đất mà không phải đo lại đất.
Hơn 100 m2 đất chưa được đền bù?
Mặc dù diện tích đất chưa bị thu hồi vẫn còn hơn 100 m2 và ông Tùng xin được ở lùi về phía sau nhưng không được chấp nhận. Ông Tùng phải di dời về lô đất được huyện bố trí gần vị trí giải tỏa và tiếp tục khiếu nại.
Năm 2009, đoàn thanh tra huyện Đức Thọ tiến hành đo đạc, xác nhận đất ông Tùng ở vị trí giải tỏa là 365 m2, trong đó, diện tích đã nhận bồi thường là 234 m2 (18,7 m2 là đất của mương thoát nước), còn lại 112,3 m2 chưa được bồi thường.

Ông Bùi Diễn Đàn, nguyên cán bộ địa chính xã Đức Yên: “Ngày 4/8/1992,
tôi đã trực tiếp đến giám sát việc cải tạo đất của ông Tùng... Sau khi
đắp đất, ông Tùng đã xây tường bao và trồng cây”.
|
Theo quy định của nhà nước tại Thông tư 116 (đã dẫn), thì diện tích đất nói trên của ông Tùng thuộc diện đất được đền bù khi thu hồi đất.
Cụ thể: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, nhưng đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không phân biệt người sử dụng đất đó là người sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 hay là người sử dụng đất sau ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường”.
Thế nhưng, tại quyết định giải quyết khiếu nại (số 3132/QĐ-UBND ngày 2/8/2011), UBND huyện Đức Thọ vẫn không chấp nhận đền bù về quyền sử dụng đất cho ông Tùng diện tích còn lại này (112,3 m2).
Nguyên nhân UBND huyện Đức Thọ quyết định như trên là do vào năm 2002, ông Nguyễn Văn Hổ, hộ liền kề đất ông Tùng có phản ánh việc ông Tùng lấn chiếm đất của ông Hổ. UBND thị trấn Đức Thọ đã tiến hành lập biên bản đo đạc đất đai của ông Tùng xác định đất ông Tùng có diện tích 234 m2 và ông Tùng đã kí xác nhận. Mặt khác, cho đến thời điểm giải quyết khiếu nại, ông Tùng vẫn chưa xuất trình được giấy xác nhận đất không tranh chấp của UBND thị trấn Đức Thọ.
Về con số 234 m2 này, ông Tùng cho biết tại thời điểm lập biên bản giải quyết tranh chấp, các thành viên của UBND thị trấn Đức Thọ đo đất trên diện tích làm nhà của ông chiều rộng 8 m, cộng với 1 m phía sát cống thoát nước là 9 m; chiều dài ước tính 26 m (theo số liệu của tổ đo đạc bản đồ địa chính khi không có mặt ông Tùng đã nói ở trên). Số liệu này không phản ánh đúng thực tế đất gia đình sử dụng vì còn thiếu 3 m chiều rộng bám mặt đường và 4 m chiều dài phía sau.
Phản ánh này của ông Tùng là có cơ sở khi vào năm 2009, thanh tra huyện Đức Thọ đo đạc, xác định diện tích đất ông Tùng sử dụng tại thời điểm thu hồi đất (2005) là 365 m2.
Cần giải quyết thấu tình đạt lý
Mặc dù không công nhận đền bù cho ông Tùng diện tích đất còn lại, song UBND huyện Đức Thọ vẫn thừa nhận ông đã “đắp đất” trên diện tích 112,3 m2. Ngày 20/2/2012, khi chúng tôi đến xem xét, mảnh đất vẫn còn, phía Tây giáp mương nước, phía Bắc giáp đường 8B, phía Đông có bờ tường ngăn cách với đất các hộ khác, bờ tường do ông Tùng xây phía Nam vẫn còn nguyên. Xung quanh các cây cối đã được trồng khá lâu năm như cây mít, cây xoan đâu... vẫn tươi tốt.
Bà Nguyễn Thị Lý, vợ ông Tùng bên gốc mít cao lớn ông bà trồng tại mảnh đất chưa được đền bù.
|
Ông Bùi Diễn Đàn, nguyên cán bộ địa chính xã Đức Yên năm 1992 xác nhận: “Sau khi ông Tùng có đơn được ông Cường (phó Chủ tịch UBND xã Đức Yên - PV) phê duyệt, ngày 4/8/1992, ông Cường đã chỉ đạo tôi trực tiếp đến giám sát việc cải tạo đất của ông Tùng. Lúc đó vị trí đất cải tạo có rất nhiều vũng nước sâu, ông Tùng đã thuê rất nhiều nhân công dùng kéo cắt đất đắp tạo thành nền. Sau khi đắp đất, ông Tùng đã xây tường bao và trồng cây”.
Theo ông Bùi Diễn Đàn, diện tích còn lại của ông Tùng đã được cải tạo, sử dụng từ năm 1992, không vi phạm quy hoạch, không tranh chấp.
Thế nhưng, tại quyết định giải quyết khiếu nại, UBND huyện Đức Thọ chưa làm rõ nguồn gốc thửa đất nói trên cũng như hiện nay ai có quyền quản lý, sử dụng diện tích đất đó.
Diện tích đất nói trên được đưa vào sử dụng cách đây không phải quá dài, việc xác định lại nguồn gốc, lịch sử sử dụng đất không phải quá khó khăn, phức tạp. Mặc dù ông Phùng Đức Tùng chưa có giấy tờ hợp pháp, song việc ông đã cải tạo, sử dụng mảnh đất nói trên là không thể phủ nhận. Vì vậy, quyền lợi của ông cần được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết một cách thỏa đáng, đúng quy định của pháp luật và đạo lý của dân tộc đối với người có công.
(Còn tiếp)
Quang Đại – Hà Vy