XÃ HỘI Văn hóa - Thể thao
Chủ nhật, 12/2/2012 10:50 GMT+7

Trò chơi đối với đời sống tinh thần và kỹ năng của trẻ em

Bản in ấn Email
Cỡ chữ
Ý kiến bình luận (3)
(Tamnhin.net) – Trò chơi (gồm trò chơi dân gian và trò chơi điện tử) có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành nhân cách, kỹ năng sống cho trẻ em. Người lớn cần hiểu đúng và vận dụng những mặt tích cực của trò chơi trong việc giáo dục trẻ.

“Chơi ô ăn quan”, tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh (nguồn: internet)

Trò chơi dân gian chẳng biết có tự bao giờ, sinh ra trong dân gian và tồn tại cùng thời gian, gắn với đời sống dân đã nơi thôn xóm. Những trò chơi dân gian đơn giản, dễ chơi mà có sức hấp dẫn lạ thường. Đôi khi chỉ là những viên sỏi nhặt ở đường làng, mấy đứa trẻ quên cả ăn lê la chơi ô ăn quan, mấy que tre nhờ ông bà, cha mẹ vót chuốt nhẵn nhụi cho trẻ chơi cỗ chuyền. Viên gạch non vẽ ô tròn, ô vuông để nhảy lò cò, vừa nhảy vừa điều khiển mảnh ngói hay mảnh sành vỡ sao cho đi đúng đường, đúng hướng...Những buổi thả trâu giữa đồng hoặc triền đê, ven đồi, bọn trẻ túm năm, tụm ba không phân biệt con trai hay con gái chơi trò “trận giả”, “trốn tìm”, “chơi bi”, “đánh đáo”...

Trò chơi dân gian gắn với đời sống sinh hoạt và sản xuất của người nông dân. Những thú vui lành mạnh không chỉ là phương tiện thư giãn, giải trí bổ ích sau những lúc lao động mệt nhọc mà còn rèn luyện sức khoẻ, tạo phản ứng nhanh nhạy, khéo léo trong mỗi con người. Những đêm trăng sáng ông bà, cha mẹ quây quần bên ấm nước chè xanh xem con trẻ túm áo nhau “rồng rắn lên mây”. Tất cả cũng hồi hộp, chờ đợi người bị bắt khi chơi trò “trốn tìm” hay “bịt mắt bắt dê”.

Dưới bóng mát của những luỹ tre, ở những góc sân đình, một đứa trẻ xoè tay ra để những đứa khác chỉ tay vào và đọc to “chi chi chành chành, cái đanh thổi lửa, con ngựa chết trương...”. Rồi bỗng tất cả đều giật mình rụt nhanh tay lại khi nghe “ù à, ù ập”. Những tiếng cười trẻ thơ giòn tan vỡ oà, phá tan bầu không khí vốn yên tĩnh, êm đềm sau những rặng tre của làng quê Việt Nam.

PGS. TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho rằng : “Cuộc sống đối với trẻ em không thể thiếu những trò chơi. Trò chơi dân gian không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả một nền văn hoá dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Trò chơi dân gian không chỉ nâng cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, sự khéo léo mà còn giúp các em hiểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước”.

Tóm lại, cùng với những phương thức giáo dục khác, trò chơi dân gian có khả năng góp phần hình thành nên tâm hồn trong sáng cho trẻ thơ. Nó tạo ra sân chơi lành mạnh giúp các em tránh xa những tệ nạn xã hội đang len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống.

Khi đặt trò chơi dân gian và trò chơi điện tử cạnh nhau nghe có vẻ khập khiễng, bởi người ta vẫn thường nghĩ trò chơi dân gian thuộc về thời xa xưa, còn trò chơi điện tử rõ ràng là chỉ có ở thời hiện đại. Song thực tế giữa chúng lại có một mối quan hệ mà không phải ai và không phải lúc nào cũng có thể nhận ra.

Trò chơi điện tử là niềm say mê đến bỏ ăn, bỏ ngủ của không ít trẻ em hiện nay. Ta có thể tìm thấy hàng trăm băng đĩa trò chơi đủ mọi thể loại, vô số tụ điểm tổ chức trò chơi điện tử đủ mọi quy mô ở khắp các thành phố và ngay cả ở những vùng quê hẻo lánh.

Nhiều trò chơi điện tử với nội dung và hình ảnh bạo lực đã xâm nhập và in sâu vào đầu óc, trở thành thói quen trong suy nghĩ của không ít trẻ em. Tuy nhiên, không phải mọi trò chơi điện tử đều có hại. Chúng cũng có những mặt tốt riêng. Ví như trò chơi chơi cờ, xếp hình giúp các em rèn luyện trí thông minh; trò chơi xếp chữ (tiếng Anh) tạo điều kiện để các em trau dồi ngoại ngữ.

Còn với những trò chơi bạo lực thì sao? Mục đích cuối cùng của các trò chơi này là phải bằng mọi giá tiêu diệt hết mọi kẻ thù nếu không muốn mình bị đối phương hạ gục và thường là người chơi phải xả súng bắn không tiếc đạn...Trong các trò chơi đó rất hay xuất hiện những thân người đầy máu, những hình nhân quái dị, những xác chết ngổn ngang, những vũng máu đổ lòm và vũ khí thì nhiều vô kể, đủ mọi loại. Những hình ảnh đó gây ấn tượng rất lớn trong tâm hồn các em, nhiều khi để lại những tác hại khó lường.

Rất dễ hình dung nếu hai đứa trẻ trong suốt thời thơ ấu của mình, một em luôn được chơi các trò chơi dân gian, còn một em luôn làm bạn với những trò chơi điện tử bạo lực thì khi lớn lên, đứa trẻ nào sẽ nhân hậu, biết yêu thương mọi người, còn đứa trẻ nào sẽ dễ dàng sống và cư xử như những nhân vật hiếu chiến, tàn nhẫn trong các trò chơi ấy.

Tất nhiên không thể khẳng định rằng, cứ chơi trò chơi dân gian nhiều là sẽ trở thành người có tâm hồn trong sáng, vì sự hình thành tâm hồn cho trẻ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa; nhưng trò chơi dân gian luôn nâng cánh cho tâm hồn các em.

Như vậy, giữa trò chơi dân gian và trò chơi điện tử có một mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, khăng khít, góp một phần không nhỏ trong việc hình thành tâm hồn cho trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, sự khéo léo, giúp trẻ hiểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương và đất nước.

                                                                                                    Phan Duy Nghĩa



Ý kiến của bạn
Sức hấp dẫn của trò chơi dân gian
Ai đã sống quãng đời từ sáu, bảy, đến mười hai, mười ba tuổi, trên dải đất Việt Nam, từ Bắc vào Nam, chắc đều biết vài ba kiểu đáo. Ðáo là trò chơi của con trai. Con gái thì nhảy giây, đánh chuyền... Còn gì vui nhộn cho bằng một sân trường trong giờ ra chơi. Dưới bóng mát của cây bàng, cây sấu hay cây phượng, cây me, chỗ này một nhóm đánh đáo, chỗ kia một đám đá cầu, bắn bị Reo hò cứ như là mổ bò... Giờ chơi bao giờ cũng quá ngắn ngủi. Lũ trẻ còn tiếc rẻ ván đáo dở dang, hẹn nhau hôm sau tiếp tục. Nếu hôm sau là chủ nhật thì sao? " Eo ơi ! lâu thế thì làm sao đợi được? ". Phải hẹn tới nhà nhau mà " đánh " tiếp chứ. Trẻ con ham mê đánh đáo lắm... Chả cứ gì trẻ con, ngay cả người lớn cũng có nhiều người mê tơi vì đáo ! "Ðáo" là cái trò gì mà quyến rũ như vậy? Muốn biết là trò gì thì ta chỉ việc lật ... Mà thôi hãy khoan ... Chuyện chữ nghĩa lát nữa hãy bàn... Mời bạn đi xem đánh đáo kẻo muộn ((2). Huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú, hàng năm tổ chức chơi "đáo đá" vào ngày mồng 6 tháng giêng, để chọn người làm chủ tế ở đình cho suốt năm. Những người được làng cử ra chơi phải hội đủ mấy điều kiện: trên 50 tuổi, đông con cháu, gia đình đạo đức, không tang chế. Tại sân đình, người ta đào một cái hào. Ðào xong, chính ông lí trưởng tự tay trồng hai cái cọc trong hào. Lúc chơi đáo, cứ hai cụ một ra chơi. Từ bờ hào, mỗi cụ được dùng sáu viên đá để ném vào cọc của mình. Cụ nào ném trúng giữa thân cọc, chỗ có dán tờ giấy điều là thắng cuộc, sẽ được làm chủ tế. Làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên chơi "đáo hú", gần giống đáo đá. Người chơi vừa hú vừa ném viên đá sao cho trúng chân cọc. Mỗi người chỉ được ném một viên đá. Làng Vọng Nguyệt, tỉnh Bắc Ninh có tục tổ chức đánh "đáo lỗ" tại sân đình vào ngày mồng 4 tháng giêng. Tại mỗi đầu sân người ta đào 4 lỗ đủ rộng và sâu để có thể ném một viên gạch vào. Làng chọn 8 người có chức sắc ra chơi đáo. Những người này mặc bộ quần áo tế, chia làm hai phe, mỗi phe 4 người. Một hồi chiêng trống nổi lên báo hiệu bắt đầu trò chơi. Mỗi người cầm một viên gạch nhắm ném vào lỗ của đối phương. Ai ném trúng, được vào ngồi chiếu cỗ của làng. Ném không trúng thì phải lấy tà áo bọc viên gạch, đem đến bỏ vào lỗ. Bỏ rồi, đến trước bàn thờ thành hoàng làng khấn : "Con trót vụng về để thua ván đáo, vạn lạy ngài, xin ngài xá tội cho con". Nổi tiếng và bình dân nhất có lẽ là "đáo đĩa" được tổ chức tại Bắc Ninh và Bắc Giang. Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném đồng tiền vào một chiếc đĩa đặt trong một cái mẹt. Nếu đồng tiền nằm trong đĩa thì người chơi (nhà con) thắng giải. Văng ra mẹt thì thua, người tổ chức (nhà cái) ăn đồng tiền ấy. Văng ra khỏi mẹt, rơi xuống đất thì hòa, người chơi được lấy lại đồng tiền. Ðáo đĩa khó hay dễ, tùy theo đĩa nhỏ hay lớn, vạch cấm xa hay gần. Giải thưởng có thể bằng tiền hay gói trà tàu, hoặc vuông nhiễu điều. Có nơi thay đổi cách chơi, biến đáo đĩa thành "đáo ô". Chiếc đĩa được thay bằng chiếc khay kẻ ô. Mỗi ô được sơn màu trắng hay đen để phân biệt ô được, ô thua. Người chơi đứng ở vạch cấm ném đồng tiền vào khay. Tiền nằm trong khay thì theo màu ô mà định được thua. Tiền văng ra ngoài khay thì hòa. Ðáo đĩa, đáo ô là hai trò chơi thường có ăn thua tiền bạc giữa nhà cái và nhà con. Nếu chỉ muốn mua vui, thử thời vận đầu năm, hay chỉ muốn khoe tài giữa bạn bè thì chơi "đáo cọc" của làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên. Người ta trồng một cái cọc ở một mé sân đình. Ðầu cọc cắm cờ ngũ sắc, vừa đẹp vừa dễ thấy từ xa. Sáng mồng 3 Tết, ông tiên chỉ của làng làm lễ tại đình, rồi ra ném viên đá đầu tiên, khai mạc cuộc chơi. Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném những viên đá tròn tới chân cọc. Viên đá của ai nằm gần chân cọc nhất thì người đó thắng cuộc. Trò chơi càng hào hứng, vui nhộn mỗi khi có ai nhắm đánh văng bật viên đá của người khác ra xa chân cọc! Chơi đáo tại hội làng là thú vui của người lớn, đúng hơn là của các ông. "Phép vua thua lệ làng". Lệ làng là như vậy ! Trẻ con chỉ được quyền chầu rìa, vỗ tay. Nghĩ cũng tức thật ! Chẳng lẽ con cháu cứ đứng nhìn cha ông vui chơi? Bỗng một ngày nào đó, trong đám trẻ nảy ra một bộ óc thông minh đầy sáng tạo, dám nghĩ rằng " Lệ làng phải hàng ... luật trẻ". Bộ óc này đã cả gan cải tiến, đổi mới những kiểu chơi của người lớn thành những trò tiêu khiển hoàn toàn của trẻ con: đó là những lối đánh đáo ngoạn mục và hào hứng. Phổ biến nhất phải kể hai món "đáo lỗ " và "đáo tường ". Ðáo lỗ chơi chỗ nào cũng được, bao nhiêu người chơi cũng được, trừ ... chơi một mình ! Chỉ cần khoét một cái lỗ dưới đất, to nhỏ, nông sâu tùy theo thỏa thuận giữa người chơi. Muốn dễ chơi thì khoét lỗ to và sâu nằm giữa bãi đất. Những tay lão luyện thì chỉ cần một lỗ vừa khít kích thước đồng cái, thường là đồng hai hào ngày xưa, xấp xỉ bằng đồng 1 euro (tiền của Cộng đồng Châu Âu). Ðể làm tăng thêm khó khăn, các bậc đàn anh thường chọn chỗ đất nghiêng, khoét lỗ gần một chướng ngại vật, cạnh một gốc cây, sát một mảnh chai chẳng hạn ! Cạnh lỗ kẻ một lằn mức. Cách lằn mức này độ hai, ba mét là vạch cấm. Ðáo lỗ có nhiều luật lệ, tùy theo giao ước giữa người chơi. Bắt đầu phải "đi cái" để định thứ tự chơi. Từ vạch cấm, ai thảy đồng cái gần lỗ nhất (trường hợp lí tưởng là ... bít kín lỗ), được chơi trước. Người chơi đứng ở vạch cấm thảy tiền đáo (tiền góp) lên quá lằn mức. Nếu có đồng nằm dưới lằn mức thì bị thua hoặc bị phạt, phải góp thêm tiền. Ðồng nào chạm hoặc rơi vào lỗ thì người khác được quyền đặt lại vào bất cứ vị trí nào. Trường hợp có nhiều đồng chồng dính lên nhau, người khác được tùy ý xếp lại thành đống lớn. Nếu người chơi đánh tan hết đống tiền thì thắng ván đáo, đánh tan một phần thì chỉ được những đồng đánh tan này. Ðây là lúc phải "bày binh bố trận " sao cho khéo, phải nghĩ ra những mẫu kiến trúc tân kì, đụng đến là văng tung toé, va chạm lung tung, người chơi sẽ bị phạt. Nếu không có tiền chồng dính nhau, thì người khác được chỉ định bất cứ đồng nào, người chơi phải đánh trúng đồng đó. Ðặc biệt là đồng nằm đụng lằn mức, đánh trúng nhưng vẫn còn phải nằm đụng lằn mức ! Lúc đánh, nếu chạm bất cứ đồng nào khác, ngoài những đồng được chỉ định, là bị phạt. Ðánh văng xuống dưới lằn mức hoặc chạm vào lỗ cũng bị phạt ! Lúc bắt đầu một ván đáo, mỗi đứa góp vài ba hào. Sau vài lần phạt, số tiền cứ tăng dần. Thỉnh thoảng có ván lên đến mấy đồng, bàn tay trẻ con cầm không hết, cả bọn phải đồng ý lấy bớt để ra ngoài ! Bắt đầu hồi hộp, gay cấn rồi đấy ! Có những cú đánh "thần sầu quỷ khốc ", đáng được ghi vào sách vở ! Có những ván "bất phân thắng bại ", cuối cùng đành phải hòa. Cao thủ gặp nhau mà lị ! Kẻ mới nhập môn làng đáo, còn e ngại đáo lỗ khó chơi, thường bắt đầu bằng "đáo điệu", còn gọi là "đáo thủ". Ðáo điệu dễ hơn đáo lỗ ở chỗ ... không có lỗ. Chỉ có lằn mức và vạch cấm. Giản dị hơn nữa thì chỉ khoét lỗ, không vạch lằn mức. Từ vạch cấm, thi nhau thảy đồng tiền vào lỗ. Trò chơi này có nơi cũng gọi là "đáo lỗ", có nơi chỉ gọi trống không là đáo để phân biệt với đáo lỗ có nhiều luật lệ kể ở trên. Tại các thành phố lớn, vỉa hè được tráng xi măng, nhiều lúc không tìm ra khoanh đất để khoét lỗ, đành phải vẽ một vòng tròn con con thay vàọ Cách chơi tuy không thay đổi nhưng trò chơi đã giảm mất đôi phần thú vị. Thảy đồng cái vào lỗ là cả một tích lũy kinh nghiệm, kết quả của luyện tập lâu ngày. Ðất mềm hay cứng, nhẵn hay mấp mô? tùy địa hình mà đưa ra lối chơi thích hợp. Thảy tiền trên nền xi măng thì còn gì là hứng thú, hấp dẫn ! Còn đâu cái khoảnh khắc hồi hộp nhìn đồng tiền lướt nhẹ trên mặt đất, từ từ bít kín lỗ đáo? Ðứa khó tính bĩu môi "Chán bỏ xừ". Thế là cả bọn nhao nhao "Ử, chán bỏ xừ, chơi đáo tường thích hơn". "Ðáo tường ", còn gọi là "đáo đập ", chỉ cần một lằn mức. Lúc chơi đập đồng tiền vào tường cho văng ra. Ðồng nào nằm gần lằn mức là hơn, vượt quá là thua. Ðứa thứ nhất được lấy đồng của mình chọi đồng của đứa thứ nhì. Chọi trúng thì được ăn đồng ấy và được chọi tiếp đồng của đứa thứ ba...Nếu chọi không trúng đồng nào thì đến lượt đứa có đồng ấy được chọi những đồng tiếp theo. Cứ lần lượt như vậy cho đến hết. Ðáo tường chơi mau chán vì có ít luật lệ. Nếu chán thì còn "đáo móc ", gần giống đáo tường, chỉ khác ở chỗ lúc đập đồng tiền vào tường, bắt buộc phải đập móc, nghĩa là phải vung tay theo chiều từ dưới lên trên. Ðồng tiền văng theo đường cầu vồng trước khi chạm mặt đất. Khó khăn lớn nhất của đáo tường, đáo móc là kiếm cho ra một bức tường để chơi mà không bị người lớn xua đuổi ! Nhiều khi không kiếm ra tường phải đập tạm vào cột, vào gốc câỵ "Cười gượng còn hơn mếu "! Sau một buổi đáo sôi nổi, bức tường được trang điểm lấm tấm, đẹp như mặt rỗ hoa ! Bọn trẻ không hiểu nổi tại sao các bậc cha mẹ lại không ưa, không thích, thậm chí còn ghét hai món đáo này? Thỉnh thoảng gặp cơn khó khăn, cả bọn trần như nhộng, không có đồng xu dính túi, hoặc bị mẹ cấm đánh bạc, chỉ còn nước rủ nhau giải trí lành mạnh, đánh đáo bằng một nắm xèng. Ðồng xèng là cái nắp bia bằng sắt được đập cho thành hình tròn bằng phẳng. Ðồng cái là một mảnh ngói hay một miếng gạch con con. Mấy đứa thua phải làm ngựa cõng đứa được, chạy nhong nhong quanh gốc cây, hay chạy rồng rắn lượn qua lượn lại một vòng. Ngô Quý Sơn gọi con ngựa của trẻ con này là "ngựa Bình Kho " (le cheval Bình Kho)(2). Nhưng ông không cắt nghĩa, không nói tại sao lại gọi như vậy? Ngô Quý Sơn đã treo lủng lẳng một cái dấu hỏi trước mặt mọi người. Ðã từng một thời mê đánh đáo, khoái chí quất ngựa nhong nhong bù lại những lúc phải cong lưng chở nặng chạy loanh quanh, tôi cứ bứt rứt, muốn tìm cho ra con ngựa Bình Kho này. Tôi tự đặt câu hỏi : Bình Kho là tên người, tên một giống ngựa, hay tên một nơi nuôi ngựa nổi tiếng? Tìm kiếm trong mấy bộ sách sử kí, địa lí, phong tục đang có thì không thấy tên Bình Kho. 2) Bình Kho là do đọc trại từ tên nào khác? Tôi tìm được ba tên phát âm gần giống Bình Kho : - Bình khấu, một chức quan đi dẹp quân làm loạn (Huỳnh Tịnh Của, Ðại Nam quốc âm tự vị). - Bình khung, một loại giường (Nguyên Hồng, Sóng gầm). - Bình Khang, nơi nổi tiếng nuôi "ngựa người " của ... người lớn (Nguyễn Du, Kiều). Trong ba tên, chỉ có "bình khấu " là tương đối sát nghĩa. "Ngựa bình khấu " có thể tạm hiểu là ngựa của ông quan có nhiệm vụ đi dẹp loạn. Hình ảnh ông quan cưỡi ngựa, có lính đi hầu, rất thích hợp với trò chơi của trẻ con. Mặc dù thuở nhỏ chúng tôi chỉ biết con ngựa : Nhong nhong ngựa ông đã về Cắt cỏ Bồ Ðề cho ngựa ông ăn. Thật là may ! Phải reo lên là thích quá, sướng quá, gần đây tôi đã tìm ra tông tích con ngựa Bình Kho, trong bộ tranh dân gian Oger. Tấm tranh vẽ trẻ con làm ngựa chơi đùa. Tên tranh được viết là "Làm ngựa Bình Vu" (hai chữ Bình Vu tôi tạm đọc theo chữ hán). Vậy Bình Vu là gì? a) Tên Bình Vu cũng như Bình Kho, không có trong sách. b) Chữ Bình có thể đọc ra tiếng nôm thành Bằng. Nếu vậy, phải trả lời câu hỏi: trẻ con làm ngựa bằng...gì? Chỉ có thể bằng vai, bằng tay, bằng lưng, hay bằng kiệu. Mấy chữ nôm vai, tay, lưng, kiệu viết hoàn toàn khác chữ vu trong tranh. c) Chúng ta thử tra nghĩa của hai chữ bình vu. - Chữ bình , nghĩa là bằng phẳng, yên ổn. Chữ bình có rất nhiều chữ đồng âm. Ngoài những chữ bình được ghi trong cả hai cuốn Hán Việt từ điển của Ðào Duy Anh (3) và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (4), cuốn Thiều Chửu còn có thêm một chữ bình mà cuốn Ðào Duy Anh không có. Ðó là chữ bình (bộ nhân) , nghĩa là sai khiến, bắt làm một việc gì. - Chữ vu (cũng đọc là hu, Thiều Chửu), nghĩa là quanh cọ Chữ này có đánh dấu cá, báo hiệu là không được đọc theo tiếng hán. Bình vu đọc theo nghĩa, có thể là : - Bằng phẳng, quanh co. Tên tranh trở thành " làm ngựa chạy quanh co trên một mặt phẳng" (sân, vỉa hè). Rất đúng với hình học không gian! Nhưng đặt trong bối cảnh bộ tranh dân gian, tả một trò chơi của trẻ con, tôi nghĩ rằng nghệ sĩ bình dân không giàu tưởng tượng, cầu kì đến mức đó! - Sai khiến, quanh co. Tên tranh bây giờ có nghĩa là "làm ngựa (bị sai khiến) chạy quanh co". Ðúng là con ngựa nhong nhong thân yêu của chúng tôị Ðứa được bắt đứa thua cõng chạy một vòng. Nhóc nào đã chơi đáo giải trí hẳn đều biết con ngựa này. Theo tôi, chữ bình trong tranh viết thiếu bộ nhân, thiếu cả dấu cá để lưu ý người đọc! Tại sao Ngô Quý Sơn lại đọc chữ vu thành chữ kho? Tôi phỏng đoán có thể Ngô Quý Sơn nhầm chữ vu của tranh với chữ vu nghĩa là khoai(bộ thảo), rồi đọc âm khoai thành kho. Trở lại chuyện đáo. Ðáo có từ thời nào? Không ai trả lời đích xác được. Nhưng chắc chắn là đáo đã xuất hiện từ lâu, được chơi trong lễ hội cổ truyền của nhiều làng quê miền Bắc. Có giả thuyết cho rằng "đáo hú" của làng Lũng Ngoại được tổ chức để tưởng nhớ bà Lê Ngọc Trinh, một nữ tướng của Hai Bà Trưng, người đã bày ra trò chơi trong khi luyện tập binh sĩ (. Tên đáo từ đâu mà ra? Rất có thể là từ chữ đáo của tiếng hán, nghĩa là đến, đến nơi đến chốn. Chơi đáo chính là ném một vật gì đến cái đích. Ðịnh nghĩa của đáo là gì? Chúng ta lật tự điển : - Ðáo : cuộc chơi, đào lỗ dưới đất, đứng xa xa mà thảy vật gì nhằm lỗ (Huỳnh Tịnh Của) (5). - Ðáo : Jeu d'enfants consistant à lancer une sapèque contre un but (Gustave Hue) (6). - Ðáo : Trò chơi của trẻ em, ném đồng tiền hoặc vật tương tự vào một cái đích (Hoàng Phê) (7). Ðịnh nghĩa của Hoàng Phê gần giống định nghĩa của Gustave Huẹ Cả ba định nghĩa trên đều còn thiếu sót. Huỳnh Tịnh Của chỉ nói đến đáo lỗ. Gustave Hue và Hoàng Phê lại bỏ quên mất ... người lớn. Vâng, chính người lớn, các ông lớn ở làng, đã bày ra trò chơi đáo trước trẻ con. Văn Tân (8) định nghĩa một cách tổng quát hơn : - Ðáo : Trò chơi quăng đồng tiền hay một vật gì vào một cái đích. Non nửa thế kỷ rồi mà đôi lúc còn bùi ngùi mường tượng đến cái đám tí nhau, được người đời liệt vào hàng thứ ba, sau quỷ và ma ... Ðứa còn đứa mất. Ðứa lên ông, đứa xuống thằng. Phiêu bạt nơi đất Mỹ, trời Tây hay vẫn ngày ngày đi về mấy con đường năm xưa. Gặp lại, chắc chắn mấy mái tóc hoa râm chẳng ai nhận ra ai. Nhưng nếu gợi lại những buổi trưa hè, đánh đáo vã mồ hôi, thì có lẽ tất cả sẽ cười ồ lên, ôm chầm lấy nhau ! (- Phan Thanh Hiền và một nhóm :Trò chơi dân gian Việt Nam NXB TP Hồ Chí Minh, 1990. (2)- Ngô Quý Sơn : Jeux d'enfants du Vietnam Sudestasie, Paris, 1985 (in lại). (3)- Ðào Duy Anh : Hán Việt từ điển NXB Trường Thi, Sài Gòn, 1957. (4)- Thiều Chửu : Hán Việt tự điển NXB TP Hồ Chí Minh, 1993. (5)- Huỳnh Tịnh Của : Ðại Nam quốc âm tự vị NXB Rey, Saigon, 1895. (6)- Gustave Hue : Tự điển Việt-Hoa-Pháp NXB Trung Hòa, 1937. (7)- Hoàng Phê và một nhóm : Từ điển tiếng Việt NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988. (8)- Văn Tân và một nhóm : Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.
La Giang
Cần lưu ý khi chọn đồ chơi cho trẻ
Bài viết này đã khai thác khía cạnh TRÒ CHƠI rất hay. Rất mong tác giả viết tiếp khía cạnh ĐỒ CHƠI vì khía cạnh này hiện nay cũng rất "đau đầu" cho các ông bố, bà mẹ.
Hà Ninh
Hãy tránh xa trò chơi điện tử bạo lực
Cần phải cho con trẻ nói không với trò chơi điện tử bạo lực. Lê Văn Luyện là bài học cho các bậc làm cha làm làm mẹ khi không biết định hướng cho con chơi trò chơi.
Năm Hành