Cổ xưa đã bàn về đạo đức. Theo Khổng Tử (551 – 479 TCN), đạo là đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở; đức là sống đúng luân thường. Khổng Tử viết nhiều cuốn sách đưa ra những quy định về luân thường, đạo lý, trong đó bàn về mối quan hệ quan và dân, ông viết: "Dân là chủ của thần, vì thế thánh nhân xưa lo cho việc dân rồi mới lo việc thần", "phải làm trước những công việc của dân, phải khó nhọc vì dân".
Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử (372-289 TCN), đưa ra học thuyết tính thiện, đề cao giáo hóa, cho rằng đó là một trong những đặc trưng riêng có của con người. Giáo hóa tính thiện của con người có hai phương pháp: dồn tâm, dưỡng tính, dưỡng khí để chiến thắng tư dục và chế ngự hoàn cảnh; tuân theo những phép tắc, chuẩn mực, đạo lý của các bậc thánh hiền xưa. Đây là những phương pháp xây dựng nhân cách, bồi dưỡng lòng nhân ái ở mỗi con người cũng như trong cộng đồng.
Như thế, từ xưa, loài người đã cho rằng, đạo đức là làm việc thiện, làm việc có lợi cho dân, và đạo đức biểu hiện ở hành động, không ở lời nói. Đạo đức không tồn tại ở lời nói. Lão Tử, khoảng 600 năm trước công nguyên, còn viết: “Lời nói chân thật thì không hoa mỹ, lời nói hoa mỹ thì không chân thật. Người thiện thì không mắc lỗi nên không cần phải biện bạch, người nào phải biện bạch cho mình là người không thiện".
Và từ xa xưa đến nay, loài người luôn tỏ rõ thái độ dứt khoát, khẳng định những người đứng trên các loại diễn đàn, đưa tay chém gió, miệng rao giảng về đạo đức rất hay nhưng không thực hành là người không có đạo đức. Người nói trơn tru về các mục tiêu xa vời nhưng hành động cụ thể lại phung phí tiền bạc, lãng phí năng lượng của xã hội là người không có đạo đức. Những người bao che cho hành vi vô đạo đức cũng vô đạo đức nốt. Người kinh doanh tương tự người làm quan ở vai trò ảnh hưởng tới xã hội, không trung thực thì không khác gì kẻ cắp.
Theo truyền thuyết, Lão Tử vì chán chường thế sự nên cưỡi trâu xanh đi ở ẩn, gặp ông Doãn Hỷ làm quan giữ ải Hàm Cốc. Ông Doãn Hỷ níu lại "xin một bộ sách!". Lão Tử ở lại cửa ải Hàm Cốc viết bộ Đạo Đức Kinh, trong đó có câu: “Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh thần bất nhân, coi trăm họ như chó rơm”. Điều này cũng có nghĩa, người kinh doanh coi rẻ nhân công, không lo việc làm và cơm áo cho họ, cho cả gia đình họ, chẳng khác kẻ bất nhân. Sử dụng phung phí nguồn lực của xã hội (công sức, tiền bạc, thời gian) thì không thể nào là người có đạo đức. Nên Enghen nói: “Một nền đạo đức thực sự có tính nhân đạo, đặt lên trên sự đối lập giai cấp và mọi hồi ức về sự đối lập ấy”.
Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, tư tưởng coi sự phát triển toàn diện lấy con người làm trung tâm nổi lên càng mạnh mẽ. Đó là phát triển coi trọng phẩm giá con người, không thể chỉ tăng trưởng kinh tế thuần túy. Thông điệp trong Thư gửi giáo dân của Giáo hoàng Paul VI Về sự phát triển của các dân tộc, năm 1967, cho rằng, phát triển đúng đắn là phải toàn diện, “khuyến khích cái thiện của mỗi người và của mọi người”. Mọi người có quyền tham dự và có đủ tư cách để phát triển bản thân mình và thế giới, bất kể những nền văn hoá khác biệt và những quan niệm trái ngược nhau về giá trị. Bản thân tính người phải được đối xử với tư cách là nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển toàn diện và là tự phát triển, nghĩa là phẩm giá con người đòi hỏi con người phải vừa là trung tâm vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể vừa là điểm khởi đầu của mọi sự phát triển.
Cuối thế kỷ 20, Cơ quan phát triển của Liên hợp quốc công bố khái niệm “phát triển có nhân tính”. Đến những năm 2000-2001, Ngân hàng Thế giới tiếp nhận quan điểm “tăng trưởng vì người nghèo”, đòi hỏi người nghèo phải được nhận phần lợi ích lớn hơn từ sự tăng trưởng. Tuy nhiên, còn một quá trình đấu tranh, ban đầu Ngân hàng Thế giới, dưới áp lực của một số nước giàu có, cho rằng tăng trưởng đương nhiên đã có lợi cho người nghèo vì “nước nổi bèo nổi” và do đó chỉ cần tự do hóa cao độ để phát triển là được. Nhưng Cơ quan phát triển Liên hợp quốc, trong báo cáo “Chính sách và tăng trưởng vì người nghèo-Kinh nghiệm châu Á” năm 2004 khẳng định: “Theo đuổi tăng trưởng phải đi kèm với nỗ lực đạt được tăng trưởng vì người nghèo thông qua việc tái phân bổ tài sản và thu nhập trong nền kinh tế”.
Từ vụ Vinashin, ta thấy, dồn tiền thuế của dân cho một doanh nghiệp để làm mất rất lớn, đẩy hàng nghìn người lao động vào cảnh mất việc, có nguy cơ tái nghèo, càng góp phần khiến cho bất bình đẳng gay gắt thêm. Dân gian có câu, lên cao một bước nhìn xa thêm một tầm. Lên cao hơn mà không nhìn xa hơn thì lên cao là vô nghĩa.
Mở rộng sản xuất mà không thúc đẩy phát triển, thu hẹp khoảng cách bất công xã hội thì mở rộng sản xuất cũng vô nghĩa. Còn gây hậu quả ngược lại thì đó là sự vô đạo đức trong kinh doanh.
Đến đây xin nhắc lại câu chuyện của bà Vũ Ngọc Oanh bán phở ở con phố nhỏ Ngô Văn Sở nằm yên bình giữa Hà Nội ồn ào, được báo chí ca ngợi đầu năm 2008. Mỗi tuần ba buổi, bà thuê xe đón những đứa bé sống cầu bơ cầu bất nơi bãi giữa sông, lề đường, gầm cầu, về nhà nuôi nấng, dạy chữ và lập ra “Tổ bán báo xa mẹ” để chúng tự nuôi thân. Khi tổ bán báo giải tán, bà huy động nhiều nơi và mở quán cơm bình dân, kiếm từng đồng lãi nhỏ mua gạo lo bữa ăn cho trẻ nhỏ. Gần 20 năm, hơn 800 đứa trẻ đã nên người từ đó, nhiều em tốt nghiệp đại học, xây dựng nên cơ nghiệp.
Cuối cùng thì dù những biến động lớn lao, ngày nay, đạo đức vẫn còn là một giá trị của hành động, chứ không phải ở lời nói, và là hành động hướng về con người chứ không phải hướng về một nơi nào khác . Người kinh doanh trở nên có đạo đức cũng từ ý nghĩa đó, dám đương đầu chinh phục các thử thách vì con người, trong đó có cả người nghèo . Vẫn là lời Lão Tử ngàn xưa: “Tri nhân giả trí, tự tri giả minh”. Tạm dịch, biết người khác chỉ mới là trí, tự biết mình thì mới là sáng. Doanh nhân có đạo đức luôn chú trọng việc tự đốt cháy sáng bản thân mình cho mục tiêu xã hội.
Sáu Nghệ