Đó là nội dung Nghị định (NĐ) 95 của Chính phủ bổ sung, sửa đổi một số điều của NĐ 202 về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng (NH) có hiệu lực từ 20-10-2011.
Theo đó, quy định xử phạt từ 50 - 100 triệu đồng đối với việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng vàng với nhau không đúng quy định.
Đồng thời áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu số ngoại tệ, tiền đồng hoặc vàng đối với hành vi này. NĐ 95 cũng quy định, xử phạt mức 300 - 500 triệu đồng đối với hành vi “Niêm yết, quảng cáo hàng hóa, dịch vụ, quyền sử dụng đất bằng ngoại tệ, vàng không đúng quy định pháp luật”.
Ông Nguyễn Hoàng Minh - Phó giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM nêu rõ, người dân có quyền nắm giữ nhưng khi sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện trong thanh toán, niêm yết, quảng cáo hàng hóa dịch vụ là vi phạm pháp luật. Đây là quy định mới nên người dân, doanh nghiệp cần lưu ý khi sử dụng vàng trong thanh toán, niêm yết, quảng cáo.
Theo Thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, vàng miếng SJC của công ty cổ phần vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) – hiện chiếm trên 80% thị phần vàng miếng cả nước – hầu như có đầy đủ các chức năng của một đồng tiền thứ hai trên lãnh thổ Việt Nam. Vàng đã là thước đo giá trị, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tự do lưu thông, chuyển đổi, mua bán… Do vậy, dự thảo nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (thay thế nghị định 174 – năm 1999) do ngân hàng Nhà nước soạn thảo hướng tới: vàng miếng là hàng hoá đặc biệt do ngân hàng Trung ương quản lý từ khâu phát hành đến lưu thông. Hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh vàng, theo đó sẽ phải tập trung đầu mối, tiến tới xoá bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.
Thành viên hội đồng tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia TS Cao Sỹ Kiêm, nêu rõ, vàng miếng ở Việt Nam hiện mang chức năng tiền tệ khá rõ, do vậy nên được quản lý tương tự như với đồng đôla: không cấm người dân được cất trữ, song hoạt động mua bán phải được kiểm soát bởi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền. Việc tự do giao dịch vàng miếng như tại Việt Nam dẫn đến tình trạng người dân, doanh nghiệp nào cũng có thể trở thành nhà phát hành tiền – vì trên thực tế vàng có thể biến thành USD, tiền bất cứ lúc nào, gây nhiễu chính sách tiền tệ.
Theo phó tổng giám đốc công ty cổ phần vàng bạc đá quý SJC Hà Nội Lưu Quang Điền, vàng tự nó không thành hàng hoá hay tiền tệ mà phụ thuộc rất lớn vào chính sách của Nhà nước. “Thực tế hiện nay, vàng nữ trang là hàng hoá, vàng miếng ít nhiều vẫn mang chức năng tiền tệ và hai chức năng này có thể chuyển đổi rất dễ qua chế tác”, ông Điền nói. Cũng theo ông Điền, ở Việt Nam khi kinh tế bất ổn người dân càng gia tăng tâm lý cất trữ vàng, lấy vàng làm thước đo giá trị. Do vậy, các chính sách càng hướng đến ổn định vĩ mô, chức năng tiền tệ của vàng càng được hạn chế. Đồng thời, cần tuân thủ chặt quy định: trên lãnh thổ Việt Nam, chỉ được thanh toán bằng tiền đồng (VND), góp phần loại bỏ dần tâm lý “vàng hoá” hay “đôla hoá”.
Ông Lưu Quang Điền cho rằng, để huy động vàng trong dân, cần phải kích thích người có vàng bằng lợi ích kinh tế, thay vì dùng ý chí chủ quan hay mệnh lệnh hành chính. Việc cất trữ vàng trong két không thôi cũng đã có lời. Nếu các ngân hàng có chính sách huy động vàng hấp dẫn, người dân chắc chắn sẽ mang đi gửi. Trước đây, có thời điểm lãi suất huy động vàng lên tới 4 – 5%/năm, lượng vàng được gửi trong hệ thống ngân hàng ước khoảng 30% lượng vốn vàng trong dân (hiện lượng vàng người dân nắm giữ ước khoảng 500 tấn, tương ứng hơn 20 tỉ USD).
Theo TS. Lê Xuân Nghĩa - Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, huy động vàng trong dân để làm tăng dự trữ vàng của Nhà nước, cũng như để vốn hóa lượng vàng khổng lồ phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh là điều hợp lý. Trung Quốc với sự hỗ trợ của Hội đồng Vàng thế giới đang thực hiện đề án huy động vốn bằng vàng trong dân rất thành công.
Ở Việt Nam khối lượng vàng trong dân theo thống kê của nhiều cơ quan trong nước và quốc tế là rất lớn, nên việc vốn hóa để phục vụ cho nền kinh tế lại càng quan trọng. NHNN cũng có thể sử dụng số vàng này để bình ổn thị trường vàng trong nước.
Theo đó, NHNN có thể ủy thác cho một số NHTM huy động vàng. Số vàng huy động được có thể coi là một dự trữ của Nhà nước và NHNN có thể kiểm soát khối lượng vàng này và phát hành các chứng chỉ vàng cho người gửi; trong trường hợp cần thiết NHNN mua số lượng vàng này để làm vàng dự trữ của Nhà nước. Các chứng chỉ vàng này dân chúng có thể được phép cầm cố vay vốn hoặc chuyển nhượng mà không cần sử dụng vàng vật chất. Điều này cũng tạo tiền đề cho việc hình thành sàn giao dịch vàng hiện đại trong tương lai. NHNN sẽ trả phí cho việc huy động này.
TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, để việc quản lý vàng vừa tập trung vừa thuận lợi trong tương lai cần phải có sàn giao dịch vàng được liên thông với thị trường vàng quốc tế. Đây là biện pháp quản lý hữu hiệu nhất. Song NHNN phải giữ vai trò là người quản lý và NHNN phải là người cân bằng giá cả thị trường trong những thời điểm xuất hiện các chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế. Điều này có tác dụng rất quan trọng làm cho thị trường vàng trong nước biến động theo xu thế chung của thị trường vàng thế giới tránh cú sốc không bình thường trên thị trường nội địa.
Thanh Hà