|
Diễn văn khai mạc
GS Phan Huy Lê
Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
Giấy
khai sinh của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam ghi nhận hai sự kiện: Đại
hội thành lập ngày 26-2-1966 tại thủ đô Hà Nội và Quyết định công nhận
số 88/NV ngày 31-2-1966 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây là một trong những
hội khoa học ra đời vào loại sớm nhất của nước ta và là thành viên trực
tiếp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên sáng lập của Liên hiệp
các hội khoa học, kỹ thuật Việt Nam.
Từ đó đến nay, trong 45 năm, trải qua 6 kỳ Đại hội, Hội Khoa học
lịch sử Việt Nam không ngừng phát triển về tổ chức và đạt nhiều thành
tựu trong các hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích và chức năng của
Hội.
Hiện nay Hội có 51 hội thành viên và chi hội trực thuộc, trong đó có
28 Hội cấp tỉnh/thành phố và 4 Hội chuyên ngành, tổng số hội viên chính
thức gần 4.000, chưa kể số hội viên tán trợ và liên kết. Hội đã có mặt
trong tất cả các cơ quan nghiên cứu và đào tạo sử học, trên hầu hết địa
bàn quan trọng của đất nước từ Bắc chí Nam. Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam thực sự đã trở thành tổ chức xã hội nghề nghiệp của giới sử học cả
nước.
Chức năng hàng đầu của Hội là cùng phối hợp với cơ quan nghiên cứu
và đào tạo sử học, thúc đẩy sự phát triển của nền sử học hiện đại Việt
Nam. Trên cơ sở ra sức thu thập tư liệu, khai thác các nguồn sử liệu mới
và không ngừng nâng cao phương pháp luận sử học, giới sử học đã có
nhiều công trình nghiên cứu về các chuyên ngành của khoa học lịch sử từ
lịch sử dân tộc đến lịch sử cách mạng, lịch sử Đảng, lịch sử quân sự,
lịch sử công an nhân dân, lịch sử ngành nghề, lịch sử địa phương, lịch
sử thế giới nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á.
Những kết quả nghiên cứu đó đã nâng cao nhận thức lịch sử, nhất là lịch
sử và văn hóa dân tộc, nâng cao tính khách quan, trung thực của sử học.
Ngoài trung tâm cội nguồn của lịch sử và văn hóa dân tộc là văn hóa Đông
Sơn và vương quốc Văn Lang-Âu Lạc ở miền Bắc, lịch sử và văn hóa miền
Trung và miền Nam với văn hóa Sa Huỳnh và vương quốc Chămpa, văn hóa Óc
Eo và vương quốc Phù Nam đạt nhiều thành tựu nghiên cứu mới.
Một số giai
đoạn lịch sử, một số vương triều và sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử
được nhìn nhận và đánh giá lại một các khách quan, công minh hơn. Đó là
những cơ sở khoa học để xây dựng một nhận thức lịch sử toàn bộ, toàn
diện của một cộng đồng dân tộc đa tộc người Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
đó cũng đã cung cấp một số luận chứng khoa học cho các nhà lãnh đạo và
quản lý trong xây dựng qui hoạch, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa;
bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của đất nước và xử lý một số vấn
đề liên quan đến lịch sử, văn hóa.
Hội rất quan tâm đến nhiệm vụ phổ biến và nâng cao kiến thức lịch sử
của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Trung ương hội và nhiều hội thành
viên đã chủ trì hay tham gia biên soạn lịch sử hay địa chí địa phương,
biên soạn sách lịch sử và văn hóa địa phương đưa vào chương trình dạy
cấp phổ cập, phối hợp với các cơ quan truyền thông trong quảng bá tri
thức lịch sử và văn hóa. Tạp chí Xưa và Nay của Hội và tạp chí nhiều hội
thành viên cũng giành một phần nội dung để giới thiệu những kết quả
nghiên cứu, những phát hiện mới về lịch sử, trao đổi và giải đáp những
vấn đề sử học được bạn đọc quan tâm. Hội cũng chia xẻ trách nhiệm về
tình trạng sa sút của việc dạy và học môn sử trong các trường phổ thông,
giành hai diễn đàn sử học với sự tham dự của các nhà sử học, nhà giáo
lão thành, nhà quản lý, một số thày/ cô giáo trực tiếp giảnh dạy, một số
tác giả biên soạn sách giáo khoa để cùng đánh giá thực trạng, tìm ra
nguyên do và đề xuất giải pháp trước mắt và lâu dài để cải thiện tình
hình. Rất tiếc những đề xuất đó chưa được các cơ quan chức năng quan tâm
và thực trạng môn sử cấp phổ thông vẫn là nỗi lo lắng bức xúc của xã
hội.
Công tác tư vấn, phản biện là một nhiệm vụ quan trọng được Đảng và
Nhà nước giao cho Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và các
hội thành viên. Hội đã thực hiện nhiệm vụ này với ý thức trách nhiệm
cao, nghiên cứu nghiêm túc, đề xuất các giả pháp khả thi, được dư luận
xã hội đồng tình, nhiều đề xuất được các cơ quan có trách nhiệm chấp
thuận. Đại diện của Hội và nhiều Hội thành viên được mời tham gia các
Hội đồng cấp quốc gia hay cấp tỉnh/thành phố trong tư vấn, thẩm định các
dự án bảo tồn di sản văn hóa hay các dự án liên quan đến lịch sử và văn
hóa dân tộc. Đặc biệt trong dịp chuẩn bị kỷ niệm nghìn năm Thăng
Long-Hà Nội, Hội, đã tham gia và đóng góp tích cực vào việc nghiên cứu
và bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long, trong nhiều công trình
nghiên cứu, trong các hội thảo quốc gia, quốc tế và trong xây dựng tủ
sách Thăng Long nghìn năm văn hiến.
Về hoạt động đối ngoại, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam là thành viên
của Ủy ban quốc tế các Khoa học lịch sử. Hội giữ mối quan hệ hợp tác với
tổ chức quốc tề này, đồng thời xây dựng quan hệ hợp tác với một số hội
sử học các nước, với giới Việt Nam học thế giới. Hội tham gia tích cực
các Hội thảo quốc tế về Việt Nam học, 5 năm tổ chức một lần khởi đầu từ
năm 1998, đó là dịp gặp gỡ rộng rãi nhất giữa giới khoa học Việt Nam với
các nhà Việt Nam học quốc tế.
45 năm hoạt động của Hội Khoa học lịch
sử Việt Nam đã tạo nên vị thế của Hội trong xã hội, tạo nên uy tín và
ảnh hưởng của Hội trong công luận. Đó là kết quả lao động của toàn thể
hội viên, sự nỗ lực của 6 khóa Ban chấp hành trong tình cảm đồng nghiệp
đầy tâm huyết và ý thức trách nhiệm, trong mối quan hệ phối hợp và liên
kết hiệu quả với Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, với
các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị, với Đảng bộ và chính
quyền các tỉnh/ thành phố.
Trong lễ kỷ niệm hôm nay, chúng tôi tưởng nhớ đến nhiều đồng nghiệp
đã ra đi, đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn và sự tôn vinh đối với cố GSVS
Trần Huy Liệu, người sáng lập và là Chủ tịch đầu tiên của Hội, đối với
cố GSVS Phạm Huy Thông là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký ban chấp hành
khóa I đã có công chuận bị Đại hội II năm 1988 để mở rộng tổ chức và
hoạt động của Hội trên phạm vi toàn quốc, đối với các vị cố Chủ tịch
danh dự: GSVS Nguyễn Khánh Toàn, GS Anh hùng lao động Trần Văn Giàu.
Cũng nhân dịp này, chúng tôi trân trọng gửi lời kính chúc Chủ tịch danh
dự Đại tướng Võ Nguyên Giáp an khang, trường thọ.
Trong nhiệm kỳ VI (2010-2015), ngoài những hoạt động thường niên,
tôi xin được thông báo Hội sẽ tập trung vào ba nội dung quan trọng sau
đây:
Một là phát triển và phát huy tác dụng của Quỹ phát triển sử học vừa
được thành lập, trong khuyến khích đào tạo tài năng sử học trẻ tuổi, cổ
vũ và hỗ trợ các nhà sử học có công trình nghiên cứu có giá trị khoa
học và ý nghĩa thực tiễn cao.
Hai là phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức nghiên cứu, hội
thảo chuyên gia để góp phần tích cực cải thiện và nâng cao chất lượng
giáo dục môn lịch sử trong hệ thống giáo dục phổ thông.
Ba là tiếp tục kiến nghị và vận động biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam
với yêu cầu của bộ quốc sử trong thời đại Hồ Chí Minh, khoảng 25 tập,
tổng hợp những thành tựu nghiên cứu mới nhất trong nước và trên thế
giới, tập hợp trí tuệ của giới sử học cả nước.
Sử học là một ngành khoa học cơ bản giữ vai trò rất quan trọng trong
nhận thức lịch sử một cách khách quan, trung thực, trong đúc rút các
bài học kinh nghiệm của quá khứ để soi đường cho hiện tại và tương lai,
trong bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, trong giáo dục nhân
cách, bản lĩnh con người Việt Nam nhất là thế hệ trẻ. Hội Khoa học lịch
sử Việt Nam đã và sẽ cố gắng hết sức mình thực hiện chức năng cao cả đó,
góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trên hành trình của mình, Hội luôn luôn nhận được sự cổ vũ của xã
hội, sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước mà tấm Huân chương Lao
động hạng nhất do Nhà nước trao tặng, sự có mặt của Chủ tịch nước Trương
Tấn Sang, các vị lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, các vị đại diện các
Bộ, Ban, Ngành trung ương và đại diện lãnh đạo các tỉnh/thành phố trong
lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Hội hôm nay là một minh chứng.
Thay mặt Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, tôi xin bày tỏ lới cảm ơn
sâu sắc đến các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các vị đại diện, các vị
khách quốc tế và tất cả các bạn.
|