PV: Bây giờ xin Tiến sĩ đề cập vấn đề chính – mô hình quản lý hạn hán và sa mạc hóa ở Việt Nam. Hạn hán và sa mạc hóa là những hiện tượng thiên nhiên, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, vậy chúng ta làm sao có thể quản lý được?
TS NLD: Hiện nay mục tiêu của chúng tôi là phải xây dựng được hệ thống quản lý hạn hán, sa mạc hóa trên lãnh thổ Việt Nam. Công cụ quản lý hạn hán, sa mạc hóa ở nước ta mới chỉ đang bắt đầu. Chúng ta nghiên cứu hiện trạng, các phương pháp giải quyết nhưng công tác quản lý thì chúng ta chưa chú trọng. Việc đầu tiên mà chúng tôi làm là xây dựng hệ thống quản lý hạn hán, sa mạc hóa ở Việt Nam theo chu trình quản lý thiên tai của Mỹ. Nó bao gồm hai công đoạn, quản lý rủi ro và quản lý sự cố. Đấy là một chu trình khép kín có ý nghĩa rất quan trọng về phương pháp nghiên cứu, chu trình quản lý thiên tai. Thiên tai ở đây gồm lũ lụt, hạn hán, sa mạc hóa.
Chu trình quản lý hạn hán có đầy đủ các bước. Đầu tiên là các bước dự phòng, giảm nhẹ, dự báo – cảnh báo, sau đấy đi đến tác động, sau đến ứng phó, tái kiến thiết, tức là đi vào chu trình khép kín.Tức là phải từ dự báo, cảnh báo và khi có dự báo, cảnh báo dài hạn, ngắn hạn thì chúng ta phải tìm các giải pháp giảm nhẹ. Sau khi thiên tai xảy ra rồi chúng ta phải đánh giá mức độ thiệt hại, tìm ra nguyên nhân, sau đấy đưa ra các giải pháp tiếp để ứng phó và các giải pháp tái kiến thiết.

Hệ thống quản lý hạn hán, sa mạc hóa
Đấy là sự quản lý và trong việc quản lý như vậy thì chúng ta phải thực hiện rất nhiều các giải pháp cụ thể. Ở đây có giải pháp công trình và phi công trình. Giải pháp công trình là xây dựng các hệ thống công trình khai thác nước – nước mặt, nước ngầm, và các giải pháp bền vững để khai thác các công trình nước nói trên. Các giải pháp phi công trình là đầu tư trồng rừng, thay đổi cơ cấu cây trồng, quy hoạch sử dụng đất. Việc trồng cây gì, nuôi con gì phải được nghiên cứu một cách cụ thể đối với từng địa bàn để giảm thiểu hạn hán và sa mạc hóa.
Lần đầu tiên chúng tôi đưa ra hệ thống quản lý hạn hán, sa mạc hóa và hệ thống quản lý này được chúng tôi thí điểm xây dựng ở tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Thuận. Quản lý ở đây là gì? Là quản lý rủi ro và quản lý sự cố. Quản lý ở đây là làm thế nào để người dân luôn có ý thức sử dụng tài nguyên nước hợp lý, còn việc dự phòng, giảm nhẹ, cảnh báo – dự báo thì do các cơ quan chức năng đảm nhiệm. Nhưng để đưa hệ thống quản lý này vào cuộc sống thì trước đó chúng tôi đã đề xuất hệ thống tổ chức – cơ cấu tổ chức quản lý hạn hán, sa mạc hóa. Chúng tôi kiến nghị xây dựng cơ cấu tổ chức về quản lý thiên tai do một Phó Thủ tướng đứng đầu và ở tất cả các tỉnh phải do người lãnh đạo cao nhất ở đấy đảm nhận. Nếu không thì phải là Phó Chủ tịch thường trực tỉnh đứng ra làm Trưởng ban. Chúng tôi đã đề ra rất cụ thể một sơ đồ tổ chức để sử dụng hệ thống quản lý nói trên.
Tính đồng bộ của hệ thống quản lý hạn hán, sa mạc hóa rất cao và chính quyền các cấp đóng vai trò quan trọng nhất.

Cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
PV: Xin Tiến sĩ cho biết, hiện nay ở nước ta việc phòng chống hạn hán, sa mạc hóa còn có những bất cập gì?
TS NLD: Cho đến hiện nay ở Việt Nam Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương thường xuyên hoạt động nhưng chúng ta chưa có ban thường trực về hạn hán và sa mạc hóa. Kiến nghị quan trọng nhất mà chúng tôi đề xuất với lãnh đạo Nhà nước là lĩnh vực hạn hán và sa mạc hóa cũng phải có ban thường trực. Vì hạn hán và sa mạc hóa không như lụt bão gây chết người, đổ nhà đổ cửa nhưng thiệt hại của hạn hán cứ dai dẳng, âm ỉ, kéo theo rất nhiều hệ lụy mà nếu không chú trọng thì giải quyết nó rất khó khăn và phức tạp.
Chúng ta phải tuyên truyền, tập huấn, thậm chí kể cả giáo dục, đào tạo ở trường phổ thông để nâng cao ý thức của người dân trong việc phòng chống hạn hán, sa mạc hóa. Ý thức người dân tôi cho là rất quan trọng. Người dân có ý thức thì việc quản lý hạn hán, sa mạc hóa mới thực hiện tốt.
Trần Quang Vinh thực hiện