Theo TS Nguyễn Sỹ Phương, Tập đoàn sinh ra không nhằm mục đích lợi nhuận, mà để thực hiện kế hoạch nhà nước, được điều hành trực tiếp bởi cấp hành chính thành lập ra nó. Nhân sự lãnh đạo tập đoàn, được cơ cấu từ cấp chính phủ. Thủ tướng bổ nhiệm nhân sự, phê duyệt kế hoạch, như chức năng của Tổng giám đốc tập đoàn ở các nước hiện đại, cùng với sự hỗ trợ của các bộ liên quan.
Hệ quả, nếu ở các nước hiện đại, trách nhiệm đối với mọi thăng trầm của tập đoàn nhà nước đều thuộc về Tổng giám đốc, gắn liền với lương, thưởng, bị hủy hợp đồng làm việc nếu thất bát, phá sản, bị truy tố nếu để doanh nghiệp phạm pháp; diễn dịch sang ở ta trách nhiệm đó rốt cuộc thuộc về Thủ tướng cấp trên của Tổng giám đốc, nhưng lại không thể áp dụng chế độ trách nhiệm đó, bởi Thủ tướng còn gánh chức năng hành pháp, vai trò đối với cả quốc gia.
Cũng vì cách tổ chức như vậy, nên tập đoàn không còn tính độc lập mà phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước, nghĩa là nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn, tương tự dạng thức doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường.
TS Nguyễn Sỹ Phương cho rằng, do chịu trách nhiệm vô hạn, nên tập đoàn càng yếu kém, nhà nước càng phải đầu tư, không chỉ bằng ngân sách, mà bằng cả vay nợ, bảo lãnh tín dụng quốc gia; càng phải tập trung sức lực của cả bộ máy hành chính, nghĩa là chính phủ ngày càng dấn sâu vào kinh doanh vốn gắn liền với rủi ro, bằng bộ máy hành chính, tài chính, ngân sách cả nước, như dưới thời kinh tế quản lý tập trung không vì động cơ lợi nhuận.
Doanh nghiệp ở các nước được điều chỉnh bởi văn bản lập pháp, bằng những chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự, nhằm giới hạn phạm vi quyền lực nhà nước đối với nó, có giá trị thi hành trực tiếp; văn bản pháp quy chỉ có giá trị trong nội bộ cơ quan hành pháp nếu không được văn bản lập pháp ủy quyền.
Ở ta ngược lại, các văn bản lập pháp lại xác lập quyền lực cho cơ quan hành pháp, như Điều 149 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định "Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tâp đoàn kinh tế", và phó mặc cho văn bản lập quy định đoạt, như Điều 26 Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định: "TĐKT không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp".
Luật Phá sản số 21/2004/QH11 cùng chung số phận, có tới 95 điều, nhưng rốt cuộc áp dụng hay không tuỳ thuộc cơ quan hành pháp, khi Điều 2 ghi: "Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này...". Giải thích tại sao khi có tập đoàn nợ tới gấp 16 lần vốn tự có, không thể trả được lương, bảo hiểm lao động, vẫn không bị luật pháp chế tài phá sản như các nước.
Theo TS Trần Văn Hùng, Nhà nước tạo lập ra các tập đoàn kinh tế nhưng lại chưa có được một công cụ quản lý hiệu quả. Chưa có một văn bản pháp luật nào chuẩn mực để có thể điều chỉnh tập đoàn kinh tế Nhà nước, càng không có một văn bản pháp lý nào quy định cụ thể tập đoàn kinh tế hoạt động ra sao, quy mô thế nào? Mặc dù cho đến tận ngày 01/01/2010 mới chỉ có Nghị định số 102/2010/NĐ – CP có hiệu lực từ ngày 15/11/2010 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, thay thế cho Nghị định số 139/2007/ NĐ – CP ngày 05/09/2007, tuy nhiên cũng vẫn quy định rất chung chung về tập đoàn kinh tế như điều 38 của Nghị định này quy định: “Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty thành lập tập đoàn tự thoả thuận quyết định”. Theo đó, chúng ta thấy các tập đoàn kinh tế có tới hàng ngàn tỷ đồng tiền vốn, nhưng lại đều là vốn của các công ty thành viên hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ còn các tập đoàn kinh tế chỉ là cái vỏ rỗng, hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp nhưng lại không có tư cách pháp nhân.
TS Trần Văn Hùng nêu rõ, điểm yếu của Nhà nước trong quản lý về mặt kinh tế của các tập đoàn, không có quy định rõ ràng về nợ của công ty Nhà nước. Nợ của công ty Nhà nước phải vừa được ghi nợ của công ty, vừa được ghi là nợ của Nhà nước (tức là công ty nợ ngân sách, ngân sách nợ người cho vay). Do vậy các tập đoàn kinh tế có tình trạng né tránh ghi nợ. Chuyện tránh ghi nợ này thực tế đã xẩy ra khi Tập đoàn Vinashin cho rằng khoản nợ gần 2 tỷ đôla Mỹ mà Nhà nước vay cho họ là nợ của Nhà nước chứ không phải nợ của tập đoàn và do đó Nhà nước phải có trách nhiệm chi trả.Bên cạnh đó, các tập đoàn kinh tế đầu tư quá dàn trải vào nhiều ngành nghề lĩnh vực khác nhau, đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực dẫn đến quản lý ở cấp cao của tập đoàn mất dần khả năng nắm bắt chuyên ngành sâu, tập đoàn dễ bị mất phương hướng, không còn mục tiêu rõ ràng, từ đó dẫn đến mất khả năng cạnh tranh. Thậm chí có nhiều tập đoàn đầu tư vốn vào lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm và mua bán cổ phiếu trên thị trường là những lĩnh vực nhậy cảm, thuộc thế mạnh của các tổ chức tài chính tín dụng. Ví dụ: Tập đoàn dầu khí đầu tư 5.780 tỷ đồng năm 2009, trong đó lĩnh vực ngân hàng là 1.100 tỷ đồng, công ty chứng khoán 76,5 tỷ đồng, công ty tài chính 4005 tỷ đồng, công ty bảo hiểm 570 tỷ đồng, quỹ đầu tư 29 tỷ đồng. Việc đầu tư dàn trải như vậy rất dễ mang lại những rủi ro vì tập đoàn thiếu kinh nghiệm cả về mặt chuyên môn nghiệp vụ lẫn quản lý trong kinh doanh lĩnh vực này. Ngoài ra, rủi ro còn thường trực đối với các tập đoàn kinh tế do được hưởng nhiều ưu đãi như không bắt buộc phải có đủ tài sản đảm bảo cho khoản vay, thủ tục vay vốn đơn giản dễ dẫn các tập đoàn kinh tế vay vốn rất dễ dàng, “cần” là vay sẽ có nguy cơ đổ vỡ dây chuyền khi mất khả năng thanh toán.
KTTD