Quá trình thành lập và phát triển
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (Hội KHLS VN) ra đời với Đại hội thành lập ngày 26-2-1966 và Quyết định công nhận số 88-NV của Bộ Nội vụ do Bộ trưởng Ung Văn Khiêm ký ngày 31-3-1966. Đây là một trong những Hội khoa học được thành lập vào loại sớm nhất ở nước ta (chỉ sau Hội Luật gia ngày 4/4/1955 và Tổng hội y học ngày 15-4-1955).
GSVS. Trần Huy Liệu là người sáng lập Hội và là vị Chủ tịch đầu tiên của Hội. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành khóa I, giới sử học Miền Bắc đã tập hợp lại trong một tổ chức xã hội nghề nghiệp và phát huy vai trò tích cực của Hội trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Sau khi cố Chủ tịch Trần Huy Liệu từ trần năm 1969, GSVS. Nguyễn Khánh Toàn và GSVS. Phạm Huy Thông đã duy trì tổ chức của Hội, đại diện cho giới sử học Việt Nam trong các họat động đối nội và đối ngoại. Năm 1975 sau khi đất nước thống nhất, GSVS. Phạm Huy Thông với cương vị Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký đã ra sức chuẩn bị cho Đại hội lần thứ II. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Hội năm 1988 là mốc mở đầu cho việc mở rộng tổ chức và hoạt động của Hội KHLSVN trên phạm vi cả nước.
Từ đó đến nay, qua các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1994), lần thứ IV (2000), lần thứ V (2005) và lần thứ VI (2010), Hội KHLS VN càng ngày càng phát triển theo hướng tập hợp rộng rãi những nhà khoa học công tác trên lĩnh vực của khoa học lịch sử và những ngành khoa học liên quan, nhằm đoàn kết giới sử học cả nước, thúc đẩy sự phát triển của khoa học lịch sử Việt Nam, phổ biến tri thức lịch sử góp phần giáo dục truyền thống dân tộc, bảo vệ di sản văn hóa, làm chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với những công trình và dự án liên quan đến sử học và văn hóa dân tộc, thiết lập và mở rộng quan hệ giao lưu với giới sử học quốc tế. Từ năm 1988 và các Đại hội tiếp theo đã nhất trí tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GSVS. Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993), GS. NGND Trần Văn Giàu (1911-2010) làm Chủ tịch danh dự của Hội.
Cho đến nay, hệ thống tổ chức của Hội KHLS VN gồm 51 hội/chi hội thành viên. Trong đó có 28 hội cấp tỉnh, thành phố, 4 hội chuyên ngành (Hội Giáo dục Lịch sử, Hội lịch sử công an nhân dân, Hội sưu tầm, nghiên cứu gốm và cổ vật Thăng Long, Chi hội lịch sử Trung ương Đoàn), 19 hội ở các cơ quan, bộ, ngành và các trường Đại học. Tổng số hội viên cho đến nay là trên 3.960 người, trong đó số hội viên được phát thẻ là gần 3.000 hội viên, chưa kể số hội viên tán trợ, hội viên liên kết. Tổ chức của Hội đã có mặt trong hầu hết các cơ quan nghiên cứu và đào tạo về lịch sử, trên mọi địa bàn quan trọng của đất nước và thật sự đã trở thành tổ chức xã hội nghề nghiệp đại diện cho giới sử học cả nước.
Thúc đẩy sự phát triển của nền sử học Việt Nam
Chức năng và nhiệm vụ hàng đầu của Hội là tập hợp giới sử học cả nước, phối hợp với các cơ quan nghiên cứu sử học và cơ quan chức năng, góp phần xây dựng và phát triển nền sử học Việt Nam. Bằng các cuộc hội thảo khoa học và diễn đàn sử học, do Trung ương Hội hay do các Hội thành viên tổ chức trong sự phối hợp với những cơ quan khoa học và địa phương, bằng những trao đổi thảo luận trên tạp chí Xưa & Nay, Hội đã có nhiều phát hiện và nghiên cứu khoa học có giá trị, đóng góp cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương cấp tỉnh, thành phố cho đến cấp huyện, xã cũng phát triển khá mạnh dưới nhiều loại hình như lịch sử, địa chí, từ điển bách khoa, bách khoa thư...
Nhiều công trình được xuất bản, góp phần nâng cao dân trí và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống dân tộc, trong đó có khá nhiều công trình do Hội KHLS địa phương đảm nhiệm hoặc phối hợp biên soạn. Từ Đại hội lần thứ IV năm 2000, Hội đã kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần quan tâm đến việc biên soạn những bộ "Lịch sử Việt Nam" phản ảnh những thành tựu nghiên cứu mới ở trong nước và những thành tựu có chọn lọc của Việt Nam học thế giới. Trong thời gian vừa qua, bốn bộ "Lịch sử Việt Nam" đã được đồng thời biên soạn do Viện sử học, Hội đồng Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Khoa lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn và trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức. Trên cơ sở đó, Đại hội lần thứ VI năm 2010 đã kiến nghị lãnh đạo Đảng và Nhà nước chỉ đạo việc biên soạn một bộ "Lịch sử Việt Nam" đồ sộ khoảng 25 tập, xứng đáng là bộ quốc sử của thời đại Hồ Chí Minh, phản ảnh kết quả nghiên cứu tổng hợp của giới sử học cả nước và tập hợp được các chuyên gia của cả nước tham gia biên soạn chứ không riêng một cơ quan nào.
Ngoài các hội thảo và họat động do Hội tổ chức, các thành viên của Hội còn tham gia vào nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế lớn, tiêu biểu như Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ 1 (1998 ở Hà Nội), lần thứ 2 (2004 ở thảnh phố Hồ Chí Minh), lần thứ 3 (2009 ở Hà Nội); Hội thảo quốc tế về 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ở Paris, Hà Nội, Bắc kinh năm 2004; Hội thảo 30 năm giải phóng Miền Nam năm 2005; Hội thảo 80 năm ngày thành lập Đảng, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2010... Đặc biệt trong trong thời gian chuẩn bị kỷ niệm nghìn năm Thăng Long-Hà Nội, Hội đã cùng với Hội KHLS Hà Nội, các trường đại học, các viện nghiên cứu tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài, tổ chức nhiều Hội thảo quốc gia và quốc tế mà đỉnh cao là Hội thảo quốc tế "Phát triển bền vững của thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình" trong dịp Đại lễ, vào ngày 8-9/10-2010. Các nhà sử học của Hội còn tham gia vào nhiều chương trình và đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước với mục tiêu cung cấp các luận chứng khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề xuất các giải pháp cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.
Trong sự phát triển chung của nền sử học Việt Nam, vai trò của Hội là ngoài chức năng tập hợp và phối hợp hoạt động, còn qua các hội thảo khoa học, diễn đàn sử học, với cương vị đai diện cho giới sử học, đưa ra các nhận định, đánh giá và đề xuất các giải pháp, kiến nghị để thúc đẩy sự phát triển nền sử học Việt Nam. Một kết quả quan trọng là trên cơ sở tổng hợp ý kiến của giới sử học, Hội đã kiến nghị cần quan tâm nâng cao quan điểm và phương pháp luận sử học, xây dựng một nhận thức toàn bộ, toàn diện về lịch sử Việt Nam. Xuất phát từ lãnh thổ Việt Nam hiện nay đi ngược về quá khứ, lịch sử Việt Nam bao quát tất cả những gì mà các công động cư dân, các tộc người đã từng sinh sống và tồn tại trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam tạo lập nên. Từ quan niệm đó, lịch sử miền Trung và Nam Trung Bộ, Nam Bộ không chỉ bắt đầu từ khi người Việt di cư vào khai phá vùng đất này, mà phải bao gồm lịch sử dòng văn hóa Sa Huỳnh với nước Chămpa và dòng văn hóa Óc Eo với nước Phù Nam từ thời cổ đại.
Một trong những mục tiêu từ lâu Hội đã đặt ra là xây dựng một quỹ để khuyến khích việc học tập lịch sử của thế hệ học sinh, sinh viên và khen thưởng các công trình sử học có giá trị tương xứng với những đóng góp của giới sử học. Quỹ Phát triển sử học Việt Nam của Hội là Quỹ sử học mang tầm quốc gia, nhằm bồi dưỡng tài năng trẻ, khuyến khích việc nghiên cứu lịch sử, trong đó có giải thưởng trao tặng cho những công trình sử học xuất sắc.
Quỹ đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ đầy nhiệt tâm của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Từ sau Đại hội VI, Hội đã nỗ lực vận động về tài chính và cơ sở pháp lý để thành lập Quỹ. Ngày 23/09/2011, Bộ Nội vụ đã ra Quyết định số 1705 chính thức thành lập Quỹ Phát triển sử học Việt Nam.
Thực hiện chức năng tư vấn, giám định và phản biện xã hội
Đây là một chức năng quan trọng của Hội phù hợp với Điều lệ của Hội và đặc biệt được qui định trong các văn bản gần đây của Đảng và Nhà nước. Sau Chỉ thị 45 (11/1998) của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 thể chế hóa chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và các hội thành viên. Gần đây Chỉ thị 42/CT/TW ngày 16-4-2010 của Bộ chính trị càng khẳng định và nêu cao vai trò "đề xuất, tham mưu cho Đảng và Nhà nước", "chủ động tư vấn, phản biện và giám định xã hội" của Liên hiệp các Hội KH-KTVN và các Hội thành viên. Các văn bản pháp quy này đã nêu cao trách nhiệm và tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định của các hội khoa học kỹ thuật, trong đó có Hội KHLS VN. Luật Di sản văn hóa có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002 tạo thêm cơ sở pháp lý cho các hoạt động của hội trong nhiệm vụ bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
Sau những việc làm chủ động phát huy vai trò của Hội trong đấu tranh bảo vệ di tích và cảnh quan lịch sử, riêng ở Hà Nội như vụ Khách sạn Hà Nội Vàng và cảnh quan quanh Hồ Gươm, phản bác dự án Thay nước Hồ Tây, bảo tồn công viên đường 19 tháng 12, đồng thời cũng chủ động đưa ra những quan điểm và giải pháp hợp lý nhằm kết hợp được mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển….. Đây là một trách nhiệm nặng nề, nhiều lúc đứng trước những vấn đề hết sức nhạy cảm, được cả xã hội quan tâm, theo dõi nên đòi hỏi Hội vừa phải phát huy hết trọng trách của mình, vừa phải nghiên cứu cận trọng, bảo đảm tính khoa học và tính pháp lý cao, giữ vững uy tín của Hội. Nhiều họat động tư vấn của Trung ương Hội và các Hội thành viên cấc tỉnh, thành phố được dư luận xã hội đánh giá cao.
Đặc biệt, những kiến nghị và đóng góp của Hội với các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị và trong dư luận xã hội đối với công trình khai quật và bảo vệ khu di tích Hoàng Thành Thăng Long đã tạo được sự đồng thuận của xã hội mang tính thuyết phục dẫn đến những đề xuất về chủ trương và những giải pháp bảo tồn, phát huy khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Hội thông qua một số chuyên gia mà đại diện là GS. Phan Huy Lê cùng các chuyên gia trên các lĩnh vực liên quan, đã hoàn thành bộ hồ sơ đề cử Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội để trình UNESCO và sau đó tiếp tục giải trình bảo vệ hồ sơ là cơ sở khoa học vững vàng kết hợp với sự vận động ngoại giao tích cực để được công nhận là Di sản Văn hoá thế giới ngày 1-8-2010, trước thềm Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội.
Gần đây, Bộ khoa học và công nghệ phối hợp với Hội và Viện khoa học xã hội VN tổ chức Hội thảo 60 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Óc Eo, từ đó đưa ra một số kiến nghị về việc tổ chức nghiên cứu sâu sắc lịch sử miền nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như việc xác lập một quan niệm toàn diện về lịch sử Việt Nam. Thực hiện sự ý kiến của Ban Bí thư Trung ương Đảng, của Chính phủ và dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo trung ương, Hội đã phối hợp với Bộ Ngoại giao, Ban chỉ đạo Miền Tây Nam Bộ biên soạn và xuất bản cuốn sách “Lược sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam” do GS Vũ Minh Giang chủ biên, in hai lần với số lượng trên 3 vạn bản, phát hành rộng rải trong nhân dân các tỉnh Nam Bộ. Cuốn sách đã cho rộng rãi bạn đọc nhận thức rằng: trên cơ sở thực tế lịch sử và các văn bản pháp lý mang tính quốc tế, Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Cuốn sách dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống cộng đồng cư dân Nam Bộ và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa mật thiết giữa các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm, Mạ, Xtiêng, Chơ Ro… và những nét đặt trưng của không gian lịch sử, văn hóa Nam Bộ.
Các tác giả nhấn mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Nam Bộ trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trong đấu tranh kiên cường, bất khuất bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Cũng từ kết quả cuốn sách này, Hội đã được Bộ Khoa học và Công nghệ giao chủ trì Đề án khoa học xã hội cấp Nhà nước “Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ” do GS. NGND Phan Huy Lê làm Chủ nhiệm. Đề án gồm 11 đề tài là công trình nghiên cứu tổng thể vùng đất Nam bộ trong tiến trình lịch sử từ thời tiền sử đến ngày nay. Đề án nhằm khắc phục tình trạng nhận thức mơ hồ do thiếu thông tin khoa học, góp phần làm thất bại mọi luận điệu xuyên tạc có ý đồ xấu, nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của đất nước, đề xuất khuyến nghị và giải pháp đưa kết quả nghiên cứu cơ bản về vùng đất Nam Bộ phục vụ việc hoạch định các chủ trương, chính sách đảm bảo quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững của vùng đất này.
Hội cũng đã phối hợp với Bộ Thông tin Truyền thông, Bộ Ngoại giao và Ủy ban biên giới cùng các cơ quan chức năng biên soạn cuốn sách về “Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc” do GS Vũ Dương Ninh làm chủ biên, vừa phát hành trong tháng 1-2011 nhằm giới thiệu rộng rãi và cung cấp tư liệu cho nhân dân và mọi người những hiểu biết đúng đắn, những thông tin chính thức về kết quả đàm phán và phân giới căm mốc trên biên giới đất liền giữa nước ta và Trung Quốc, chống lại các luận điệu xuyên tạc. Hội cũng đã trình bày ý kiến tư vấn với lãnh đạo Đảng và Nhà nước, với Ban Tuyên giáo trung ương và một số cơ quan chức năng về một số vấn đề liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia như vấn đề Biển Đông, vấn đề nhận thức về lịch sử và văn hóa miền Trung, miền Nam…
Việc giảng dạy lịch sử trong trường phổ thông và trong các trường đại học, từ chương trình đến sách giáo khoa cũng được Hội quan tâm và đã đề xuất với Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ quan chức năng những giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo và để phát huy vai trò môn quốc sử trong nhà trường, trước hết là cấp phổ thông. Hội đã tổ chức hai diễn đàn sử học về tình trạng dạy và học môn sử cấp phổ thông với sự tham dự của nhiều nhà sử học, nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục và các tác giả biên soạn sách giáo khoa lịch sử, một số thày/cô giáo để nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan thực trạng môn lịch sử trong nhà trường, từ đó tìm ra nguyên nhân sa sút về chất lượng, đề nghị các giải pháp cụ thể để khắc phục.
Hoạt động phổ biến tri thức lịch sử và giáo dục truyền thống
1. Hội thảo khoa học, sinh hoạt tưởng niệm sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử và danh nhân
Trong thời gian qua, các giai đoạn lịch sử, sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử đã được Hội tổ chức hội thảo khoa học nhằm nhận thức lại một cách khách quan, trung thực hơn. Ví như về triều Hồ, triều Mạc, về các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX, về phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, về cải cách của Hồ Quý Ly, về tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh, về khởi nghĩa Yên Bái... và về các nhân vật lịch sử còn nhiều cách nhìn nhận khác nhau như Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trung Ngạn, Đào Duy Từ, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, Phan Thanh, Phạm Khắc Hoè, Nguyễn Sơn, Cao Văn Khánh… Thông qua những hoạt động này, uy tín và vị thế của Hội được khẳng định, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, góp phần phát huy và giáo dục truyền thống.
2. Tổ chức triển lãm
Triển lãm là một lĩnh vực mà Hội đã tham gia khá sớm và có nhiều kinh nghiệm. Trong thời gian 5 năm trở lại đây, Hội đã phối hợp với một số cơ quan, tổ chức những triển lãm qui mô không lớn, nhưng mang nhiều ý nghĩa về lịch sử, văn hóa và được đánh giá cao. Triển lãm “Một số hình ảnh Hà Nội xưa” tổ chức tại Trung tâm văn hóa Pháp; Triển lãm “Ngày tiếp quản qua ống kính người dân Hà Nội” tổ chức nhân dịp 50 năm giải phóng thủ đô (1954-2004) tại Nhà triển lãm Tràng Tiền; Triển lãm “Giá trị lịch sử của bưu ảnh cổ đầu thế kỷ XX” tổ chức tại Trung tâm Văn hoá Pháp tháng 5/2005; Triển lãm “Nguyễn Duy Kiên - Những ký ức còn lại” diễn ra tháng 10/2006 tại 23 Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội; Triển lãm ảnh “Hà Nội - Huế - Sài Gòn” xưa tại 29 Hàng Bài, Hà Nội tháng 10/2007; Mới nhất là triển lãm ảnh “Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa” tại Thư viện Hà Nội tháng 1/2010, “Cần Thơ những năm đầu thế kỷ XX” tại Cần Thơ tháng 7/2010, “Ký ức về những ngày độc lập đầu tiên” giới thiệu tập ảnh trên 200 tấm của GS Philippe Devilers tặng GS. Phan Huy Lê, tại Hà Nội từ ngày 21-26/9/2010.
Đặc biệt, bộ sưu tập này đã được Nhà Xuất bản Thời đại thuộc Hội Xuất bản Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay xây dựng thành bộ sách “Ký ức về những ngày độc lập đầu tiên 1945-1946”- một trong những ấn phẩm chính thức chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011).
3. Đúc tượng danh nhân
Cuộc vận động đúc tượng danh nhân bắt đầu từ cuối năm 1997 với việc kỷ niệm Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố và đã bền bỉ thực hiện được 14 năm (1997-2011). Từ ý tưởng tôn vinh danh nhân và phương thức xã hội hoá một trong những việc làm có ý nghĩa nhưng chưa thành tập quán xã hội nay đã phát triển khá sâu rộng, tạo được hiệu quả và uy tín cho Hội, bắt đầu được một vài nơi học tập. Cho đến thời điểm này, Hội đã đúc được hàng trăm mẫu tượng nhân vật với cả trăm pho tượng bằng đồng, mang những kích cỡ khác nhau, chủ yếu là các tượng bán thân, như: Khâm sai Nguyễn Tri Phương, Phan Châu Trinh, Thái uý Lý Thường Kiệt, GS. Nguyễn Hoán, GS. Nguyễn Thạc Cát, GS. Nguỵ Như Kom Tum, GS. Nguyễn Đình Tứ, Bùi Lâm, Tướng Nguyễn Sơn, GS Tạ Quang Bửu, Phùng Hưng, Hoàng Văn Thái, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tướng Nam Long, Phan Thanh Giản, Tô Hiệu, Tô Chấn, Đỗ Đình Thiện, Nghiêm Xuân Danh, Huỳnh Ngọc Huệ, Trần Văn An, Đặng Xuân Thiều, GS. Nguyễn Đình Tứ, Hoàng Hoa Thám, Phan Thành Tài, Trương Vĩnh Ký, Trương Định, Cao Văn Khánh…Riêng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc nhiều cỡ khác nhau cung cấp cho các địa phương và Sứ quán Việt Nam ở nước ngoài.
Các pho tượng này đều được thực hiện bằng sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp hay cá nhân. Các bức tượng này được trao cho các nhà trường, nhà lưu niệm hay bảo tàng, các đình chùa hay nhà thờ họ, các cơ quan hay tổ chức doanh nghiệp và đã phát huy tác dụng rất tích cực, được dư luận xã hội hoan nghênh.
Hoạt động truyền thông và xuất bản
Tạp chí Xưa & Nay đã bước vào năm thứ 17 (1994-2011), đã phát hành được 370 số, trung bình từ 6.000 đến 7.000 bản/số. Tạp chí đã thực sự trở thành cơ quan ngôn luận của Hội, diễn đàn trao đổi những vấn đề khoa học mà giới sử học quan tâm, cập nhật những vấn đề mang tính thời sự của sử học và góp phần truyền bá kiến thức lịch sử trong xã hội. Tạp chí Xưa & Nay càng ngày càng khẳng định được vị trí và uy tín trong làng báo, trong giới sử học cũng như những người yêu thích lịch sử. Tạp chí cũng đã phải vượt qua nhiều khó khăn để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường.
Cùng với tạp chí của TƯ Hội, các tạp chí của các Hội cấp tỉnh và thành phố vẫn tiếp tục duy trì và phát triển với tên gọi chung là Xưa & Nay như Huế Xưa & Nay, Quảng Ninh Xưa & Nay, Đồng Tháp Xưa & Nay, Bà Rịa-Vũng Tàu Xưa & Nay, Bạc Liêu Xưa & Nay, Thành Hạc Xưa & Nay (Thanh Hóa), Tạp chí Cổ vật tinh hoa…
Về hoạt động xuất bản, ngoài các ấn phẩm của cơ quan khoa học của Nhà nước và các tác giả, riêng khối lượng sách do Hội xuất bản cũng tăng lên đáng kể và là một cống hiến quan trọng cho sự phát triển của sử học Việt Nam, hàng năm cho ra mắt hàng chục ấn phẩm được tập hợp và hệ thống theo chủ đề của tạp chí, trong đó có nhiều ấn phẩm có giá trị như: Hồ Chí Minh hiện thân của văn hóa hòa bình, Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Trương Vĩnh Ký, Nghiên cứu Hà Tiên, Sài Gòn xưa & nay, Tây Nguyên đất và người, Quang Trung- Nguyễn Huệ di sản & bài học, Hồ Quý Ly, Võ Văn Kiệt, Sài Gòn qua bưa ảnh xưa, Hà Nội - Huế - Sài Gòn, Hà Nội xưa, Sơn Nam đi và ghi nhớ, Triều Nguyễn và những vấn đề lịch sử, Tiền tệ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nguyễn Văn Tạo, Đà Lạt xưa, Lê Văn Duyệt, Võ Nguyên Giáp trong cuộc trường chinh thế kỷ, Việt Nam đầu thế kỷ XX qua bưa ảnh xưa, Nguyễn Đình Đầu - hành trình của một tri thức dấn thân, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam, Ký ức về những ngày độc lập đầu tiên 1945-1946…
Hoạt động đối ngoại
Hội là thành viên của Ủy ban quốc tế các khoa học lịch sử, thường xuyên tham gia các Đại hội và tạo điều kiện cho các thành viên tham dụ hội thảo và các hoạt động của tổ chức quốc tế có qui mô toàn thế giới này. Tuy nhiên do khó khăn về kinh phí nên sự tham gia các hoạt động quốc tế có lúc không thực hiện được. Trong các hoạt động đối ngoại, Hội tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc của công tác đối ngoại và các quy định của Nhà nước.
Có thể khẳng định, trong 45 năm qua (1966-2011), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã xác lập được vị thế phù hợp với chức năng của mình trong đời sống sử học của cả nước, xác lập được mối quan hệ và sự phối hợp trong giới sử học cũng như đối với các cơ quan khoa học trong hệ thống chính trị và xã hội. Hội đã góp phần vào nhiều hoạt động nghề nghiệp và xã hội của giới sử học cũng như đáp ứng những nhu cầu của xã hội. ảnh hưởng và uy tín của Hội không ngừng được củng cố.
Những thành tựu của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trong 45 năm qua đã góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày 22/10/2011, tại Nhà Hát Lớn - Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam sẽ tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Hội; Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất; Lễ công bố thành lập Quỹ Phát triển sử học Việt Nam. Một chương trình nghệ thuật đặc biệt mang chủ đề “Sóng vọng biển Đông” sẽ được tổ chức nhân dịp này.
Ra đời từ năm 1966 theo Quyết định số 88-NV ngày 31 tháng 3 năm 1966 của Bộ Nội vụ, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam là một trong những hội ra đời sớm nhất trong cả nước. 45 năm qua, bằng những hoạt động cụ thể, Hội tự hào khẳng định sự ra đời và trưởng thành nhanh chóng, nhất là những cống hiến của nền sử học trong việc nhận thức lại tiến trình lịch sử trên quan điểm duy vật lịch sử, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái; tham gia phổ biến kiến thức lịch sử, đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; giám định, phản biện, tư vấn khoa học; mở rộng công tác đối ngoại... góp phần tích cực vào thắng lợi của Cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại trọn vẹn độc lập và thống nhất Tổ quốc. Lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Hội KHLS VN, Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, Lễ công bố Quỹ Phát triển sử học Việt Nam, Chương trình nghệ thuật “Sóng vọng biển Đông” sẽ được tổ chức trang trọng tại Nhà hát lớn - Hà Nội vào tối thứ 7, ngày 22/10/2011.
Nhằm tiếp tục và cụ thể hóa hơn nữa những gì mà Hội KHLS VN đã làm, Quỹ Phát triển sử học Việt Nam, một tổ chức thành viên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã được thành lập theo Quyết định số 1705/QĐ-BNV ngày 23/09/2011 của Bộ Nội vụ. Đây là quỹ quốc gia đầu tiên do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam sáng lập. Quỹ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ đầy nhiệt tâm của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Trong quá trình vận động thành lập, Quỹ cũng đã nhận được sự hỗ trợ của Công ty Cổ phần Vincom và Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Với tôn chỉ, mục đích hoạt động nhằm góp phần đào tạo nhân tài sử học cho đất nước và thúc đẩy sự phát triển của nền sử học nước nhà, Quỹ sẽ có các hoạt động thường niên như: Xét chọn trao giải thưởng, học bổng, hỗ trợ tài chính cho các công trình sử học xuất sắc, tổ chức các sự kiện liên quan đến lịch sử văn hóa… Đặc biệt, Quỹ dự định sẽ tổ chức thường niên Diễn đàn Sử học Việt Nam cùng các sự kiện văn hóa, lịch sử nhằm thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân đến các vấn đề nóng bỏng của xã hội liên quan đến lịch sử… Chương trình “Sóng vọng biển Đông” là sự kiện mở đầu cho các hoạt động thường niên này.
Chương trình “Sóng vọng biển Đông” là chương trình nghệ thuật đặc biệt được tổ chức nhằm khơi dậy niềm tự hào đa chiều và ý thức trách nhiệm của mỗi người Việt ở mọi lứa tuổi khác nhau với lịch sử dân tộc. “Sóng vọng biển Đông” bao gồm các ca khúc được dàn dựng theo các chủ đề: Xây dựng đất nước và bảo vệ biển đảo; Vọng phu; Câu chuyện của người mẹ; Một ngày bình thường... sẽ mang đến một cuộc đối thoại giữa những con người thời bình ở nhiều lứa tuổi khác nhau khi cùng nhìn lại một giai đoạn hào hùng về Biển và Lịch sử.
Chương trình do Nhạc sĩ Lê Minh Sơn chỉ đạo nghệ thuật với sự tham gia biểu diễn của các ca sĩ Quang Thọ, Trọng Tấn, Đăng Dương, Khánh Linh, Tân Nhàn, Anh Thơ...
|