1 – Một nội dung chủ yếu của Đề án là phải làm rõ mô hình mới của tăng trưởng và của cơ cấu nền kinh tế. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mô hình mới này không được cụ thể hóa ở mức tối thiểu. Mặt khác, tuy có đại biều có đề cập đến nhiệm vụ làm rõ mô hình mới này nhưng tại Hội trường, không có không khí thảo luận nên kiến nghị về nhiệm vụ làm rõ mô hình này bị chìm đi và cuối cùng mới được Phó Chủ tịch Quốc Hội đề cập đến khi kết luận buổi họp.
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT viện cớ chỉ có 60 ngày nên không đủ thời gian cụ thể hóa mô hình mới về tăng trưởng cũng như mô hình mới về cơ cấu nền kinh tế. Lập luận này không đững vững vì Bộ có thể đi từ những kết luận của các ĐH, tối thiểu từ ĐH VIII cũng như từ kết luận tại HN TƯ 3, 4 K XI. Phải chăng vì Bộ trưởng chưa sẵn sàng đấu tranh chống các nhóm lợi ích đã và đang tiếp tục chi phối các chiến lược, quy hoach phát triển của các ngành kinh tế, các lĩnh vực và các địa phương, đồng thời qua đó, phải chăng Bộ KH&ĐT cũng chưa sẵn sàng thực hiện nghiêm túc NQ HN TƯ 4 về xây dựng Đảng ? Vì thế nên cần phải rà soát, hoàn chỉnh lại Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế để trình Quốc hội xem xét lần nữa
.2 – Một xu thế được nhiều đại biểu đề cặp đến là phải tăng tỷ trọng ngành nông nghiệp (trong đó có ngành thủy hải sản) lên trong GDP và, trong chừng mực nhất định, được thể hiện trong kết luận của Phó Chủ tịch QH khi kết luận hội nghị . Xu thế đó điều chỉnh một xu thế phổ biến lâu nay, ở cả phạm vi thế giới, là từ phải tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP, hạ thấp tỷ trọng nông nghiệp trong GDP sang tăng tỷ trọng nông nghiệp trong GDP. Đó là một xu thế tích cực phù hợp vì cuộc khủng hoảng lương thực cũng như việc coi thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương đã chứng minh vai trò quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống của nhân loại.
3 – Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế là một đề án có tầm quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội trong một thời gian tối thiểu từ 5-10 nam. Do đó Để án này phải được Quốc Hội phê duyệt. Thế như, theo tình thần kết luận của Phó Chủ tích Quốc hội khi kết thúc buổi thảo luận thì việc phê duyệt Đề án này lại giao cho Chính phủ. Cách làm đó mang tĩnh chất vi hiến nhưng lại mang tính chất là một tiền lệ phổ biến, được thực hiện từ nhiều năm nay. Do đó, đề nghị cầm xem xét việc xác định Quốc Hội có nhiệm vụ (thẩm quyền) phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế để, căn cứ vào đó, Chính phủ tổ chức triển khai và hàng năm báo cáo kết quả trước Quốc hội, cùng với báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm.
Ngày 8/6/2012, đề án này đã được Quốc hội tổ chức thảo luận tại Hội trường. Tôi chỉ có điều kiện theo dõi trên đài phần đầu của buổi tháo luận chiều hôm đó. Sau đó, vào buổi tối, tôi có theo dõi thông tin vắn tắt về nội dung thảo luận được thể hiện trên các kênh của VTV1, VOV, TTXVN,… và, qua đó, thấy các kênh đó lại nhấn đến các nội dung khác nhau đã được đưa ra tại buổi thảo luận Hội trường. Đến ngày 9/6/2010, Báo Nhân Dân có tường thuật vắn tắt nội dung, có mang tính chất tương tự như của VTV 1. Các đại biểu đã phát biểu, góp nhiều ý kiến cụ thể để bổ xung về nhiều nội dung khác nhau của Đề án tổng thể tái cơ cầu nền kinh tế đã được trình QH XIII tại kỳ họp thứ 3 này. Đặc biệt là, sau đó, tôi được đọc 104 trang biên bản ghi lại các bài phát biểu của 50 đại biểu và tổng kết của Phó Chủ tịch QH Nguyễn thị Kim Ngân, người điều khiển buổi họp.
Tại hội trường, các đại biểu trình bày những ý kiến đã được chuẩn bị trước nên nội dung góp ý vừa dàn mỏng vào nhiều chủ đề khác nhau, vừa không thể hiện tính chất thảo luận để làm rõ những vấn đề chủ yếu. Tuy nhiên, qua tổng hợp, tóm tắt của Phó Chủ Tịch Nguyễn thị Kim Ngân, tôi rất quan tâm đến ba nội dung chủ yếu sau đây :
- Bản đề án phải thể hiện được cơ cấu kinh tế theo ngành (cơ cấu nông nghiệp,công nghiệp, dịch vụ), cơ cấu nội bộ của các ngành đó và cơ cấu theo thành phần kinh tế. Trong cơ cấu ngành, Phó Chủ Tịch đưa ngành nông nghiệp lên trên ngành công nghiệp và dịch vụ.
- Trong kỳ họp này, Quốc hội sẽ có kết luận về đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế để Chính phủ hoàn thiện, phê duyệt và triển khai thực hiện.
- Hàng năm Chính phủ sẽ báo cáo trước Quốc hội cùng với việc báo cáo thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội hàng năm.
Qua đó, tôi xin góp một số ý kiến nhận xét ban đầu sau đây.
Phần I: Về mô hình mới của cơ cấu nền kinh tế và của tăng trưởng kinh tế.
I- Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tê có nhiệm vụ cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Quốc hội là cụ thể hóa nhiệm vụ chuyển mô hình tăng trưởng từ tăng trưởng nhanh sang tăng trưởng bền vững. Đề án chưa làm rõ mô hình mới của tăng trưởng bền vững và mô hình mới của cơ cấu nền kinh tế nên cần bổ xung, hoàn chỉnh đề án tổng thế tái cơ cấu nền kinh tế trên một số lĩnh vực chủ yếu sau :
1 – Đại biểu Tô văn Tám (Kon Tum) lại cho rẳng chủ trương, quan điểm của Đảng là “Phát triển nhanh” nên không tán thành việc đề án xác định nhiệm vụ “tăng trưởng hợp lý” là có phù hợp không. Đặc vấn đề như vậy là đại biểu đã chưa nhận biết đầy đủ là Đảng và Quốc hội đã thống nhất chủ trương “chuyển từ tăng trưởng nhanh sang tăng trưởng bền vững”. Chính vì thế nên mới hình thành chủ trương “chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế” dẫn đến việc hình thành Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế để đưa ra thảo luận lấy ý kiến của các đại biểu tại kỳ họp này.
2 - Đại biểu Lê thanh Vân (Hải phòng) đã chỉ ra là phải xem xét cơ cấu kinh tế theo 3 tiêu thức : cơ cấu ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ); cơ cấu lãnh thổ; cơ cấu thành phần kinh tế. Trong chừng mực nhất định, kiến nghị này đã được Phó CT QH Nguyến thị Kim Ngân tiếp thu khi kết luận Hội nghị.
3 - Nhiều đại biểu đã phân tích và chỉ ra những thiếu sót, khuyết tật cần khắc phục của mô hình cũ. Qua đó, có nhiều ý kiến tập trung làm rõ thiếu sót trong phân bố nguồn lực để phát triển nông nghiệp (gồm nuôi trồng động thực vật, đánh bắt thủy hải sản, lâm nghiệp, nghề muối). Do đó, mô hình mới của cơ cấu kinh tế phải bao gồm những mô hình cụ thể tái cơ cấu các ngành, các lĩnh vực cụ thể, … để khắc phục những khiếm khuyết của mô hình tăng trưởng cũ, đã được thể hiện qua các chiến lược, các quy hoạch, chủ trương phát triển đã được phê duyệt. Khắc phục khuyết tật của mô hình cũ đòi hỏi phải tập trung phát triển nông nghiệp, tăng tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và, trong chứng mực nhất định, mô hình này đã được Phó Chủ tịch QH Nguyễn thị Kim Ngân thể hiện trong lời kết luận khi kết thúc hội nghị.
4 - Việc phân bổ các nguồn lực là để thực hiện mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chứ không phải là vì mục đích tự thân. Cũng từ đó, đại biểu Nguyễn đắc Vinh (Đắc Nông) đã xác định là tái cơ cấu nền kinh tế phải giải quyết mối tương quan, thay đổi lại các nhóm lợi ích, thay đổi cơ chế quyền lực và cơ chế phân bổ các nguồn lực và điều này liên quan đến nhiệm vụ tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước đối với công tác quy hoạch (đại biểu Doãn thế Cường, Hưng Yên), khắc phục tình trạng quy hoạch đầu tư phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch đi sau thực tế nên phải điều chỉnh quy hoạch, … (đại biểu Trịnh ngọc Phương, Tây ninh, đại biểu Nguyễn đức Hiền, Nghệ an, ….). Việc chuyển dịch việc sử dụng đất từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp là nhằm thực hiện mô hình phát triển nhanh vì đất sản xuất nông nghiệp chỉ đem lại 9,1 triệu đồng/ha/ năm trong khi đất sản xuất phi nông nghiệp lại đem lại 2,1 tỷ đồng/ha/năm. Chính vì thế nên đã hình thành việc phân bổ nguồn lực theo hướng CNH, HĐH và đô thị hóa nông thôn chứ không tập trung vào nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp.
5 – Trong quá trình tham gia góp ý vào Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, các đại biểu đề cập đến nhiều nội dung cụ thể liên quan đến các chủ đề tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu hệ thống tài chính, nhân hàng, tái cơ cấu DNNN, phân bố nguồn lực, về tình hình phát triển nông nghiệp, kinh tế biển …. Đó là những ý kiến cụ thể, cần được nghiên cứu, tiếp thu một cách thích hợp ,trong đó có phát biểu của đại biểu Mai thị Ánh Tuyết về việc, do thực hiện CPH, Chính phủ đã mất khả năng lãnh đạo Công ty cổ phần thực phẩm An Giang trong lĩnh vực thực hiện mục tiêu phục vụ phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là nội dung chủ yếu của Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế phải là xác định được rõ nội dung tương đối cụ thể của mô hình mới của tăng trưởng, mô hình mới cơ cấu nền kinh tế. Tuy có được một số đại biểu đề cập đến như đã trình bày ở trên nhưng lại không được các đại biểu trao đổi để làm rõ chủ đề này. Có thể một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó là các đại biểu phát biểu ý kiến đã được chuẩn bị trước nên không có không khí trao đổi, tranh luận tại Hội trường để làm bật nội dung chủ yếu cần được xem xét. Một điển hình của việc tham luận theo báo cáo đã được chuẩn bị trước là tham luận của đại biểu Trần xuân Hòa (Quảng ninh).
6 - v.v…
II- Giải trình việc Bộ KH&ĐT chưa cụ thể hóa được mô hình tái cơ cấu nền kinh tế, Bộ trưởng Bùi quang Vĩnh đã làm rõ :
1 - Đã có một số đề án cụ thể đã được Chính phủ thông qua về cơ bản một số đề án cụ thể như đề án phát triển nông nghiệp, … . Vì các đề án cụ thể đó rất dày nên không thể đưa vào Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế nhưng vẫn có thể gửi đến các đại biểu quốc hội để các đại biểu tham khảo.
2 - Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế là một đề án lớn nhưng Bộ chỉ có 60 ngày để triển khai xây dựng nên làm được đến đó là một cố gắng lớn. Trên cơ sở góp ý của các đại biểu, Bộ sẽ hoàn chỉnh đề án để trình Chính phủ xem xét.
3 - v.v….
III- Từ một số nội dung nêu ở trên, trong chừng mực nhất định, tôi có rút được một số nhận xét chủ yếu sau đây :
1- Phải làm rõ mô hình tăng trưởng cũ và mới. Việc phân bổ nguồn lực là để thực hiện mô hình tăng trưởng mới. Do đó, nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là phải xác định được mô hình mới về tăng trưởng và về cơ cấu kinh tế. Tuy bị trói bởi thời hạn 60 ngày nhưng, để làm rõ những khuyết tật, sai sót của mô hình tăng trưởng cũ, điều chỉnh bổ xung mô hình cũ để hoàn thiện mô hình mới về tăng trưởng, về cơ cấu nền kinh tế, Bộ KH&ĐT không phải đi từ con số không mà có thể đi một cách tương đối vững chắc từ những kết luận của các ĐH kế tiếp nhau để có thể trình bày tương đối cụ thể hơn mô hình mới về tăng trưởng kinh tế, về cơ cấu nền kinh tế ngay trong Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế. Không đi từ thừa kế các kết luận của các ĐH, từ ĐH VIII đến ĐH XI cũng như những kết luận tại HNTU 3, 4 KXI, phải chăng Bộ KH&ĐT chưa sẵn sàng đấu tranh chống tác động của các nhóm lợi ích, chưa sẵn sàng thực hiện nghiêm túc NQ HN TƯ 4 về công tác xây dựng Đảng ?
2 - Mô hình tăng trưởng kinh tế bước đầu đã được ĐH III xác định là Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa với nội dung chủ yếu là “… xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy nông nghiệp làm nền tảng, ….. nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại”. (Văn kiện ĐH III, tập I. Ban CHTƯ Đảng Lao động Việt nam xuất bản 1960, tr 182-183). Tiếp đó, Hội nghị giữa nhiệm kỳ ĐH VII đã tiếp tục cụ thể hóa thêm một bước mô hình tăng trưởng “Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa…. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn các nước chung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa. ….Từ nay đến cuối thập kỷ, phải rất quan tâm đến công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. …” (Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ Khóa VII, tr 26-29). Quá trình CNH, HĐH đã được triển khai theo tinh thần phát triển nhanh, chú trọng tốc độ phát triển theo chỉ tiêu GDP và, theo Nghị quyết ĐH X, chúng ta đã thực hiện được nhiệm vụ sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển (Văn kiện ĐH X, tr 185). Đấy là một trong những thành tựu nổi bất của quá trình thực hiện mô hình tăng trưởng đã được các ĐH kế tiếp xác định.
2 – Quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng mô hình tăng trưởng theo CNH, HĐH XHCN, bên cạnh những thành tựu nổi bật, đã xuất hiện những yếu kém bất cập chủ yếu đã được các ĐH xác định.
- ĐH IX đã xác định “Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. …. Rừng và tài nguyên khác bị xâm hại nghiêm trọng.” (Văn kiện ĐH IX, tr 73).
- ĐH X lại tiếp tục xác định “Chất lượng phát triển kinh tế-xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém….. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, vào những ngành và những sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động . …. Chưa thực hiệt tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Nguồn lực của đất nước chưa được sử dụng có hiệu quả cao, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực vốn của Nhà nước còn bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng. Các nguồn lực trong nhân dân còn nhiều tiềm năng chưa được phát huy.” (Văn kiện ĐH X, tr 162-164).
- ĐH XI lại tiếp tục xác định cụ thể thêm “Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu qủa, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển của đất nước; … Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng đầu tư, khai thác tài nguyên; các cân đối vĩ mô chưa vững chắc…. Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí. Tình trạng khai thác rừng, khai thác khoáng sản bất hợp pháp vãn còn xẩy ra ở nhiều nơi, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu, ngăn chặn kịp thời. Trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng.” (Văn kiện ĐH XI, tr 165-166).
3 - Từ những đánh giá đó của các ĐH, có thể đặt một câu hỏi Phải chăng quá trình CNH, HĐN XHCN của nước ta đã đi vào vết xe đổ của quá trình CNH TBCN? Thế nhưng từ sau ĐH XI, những yếu kém, bất cập đó vẫn chưa được khắc phục mà, trong chừng mực nhất định, có biểu hiện gia tăng. Điều này được thể hiện chủ yếu qua sự chi phối bởi quan điểm là điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Xu hướng điều chỉnh theo quan điểm đó có thể đã được thể hiện qua một số sự kiện sau :
- Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ CHN, HĐH nông nghiệp và nông thôn, chúng ta đã tập trung quá mức vào nhiệm vụ CNH, HĐH và đô thị hóa nông thôn dẫn đến việc chuyển dịch quá mức và lãng phí quỹ đất nông nghiệp. Trong chừng mực, vấn đề này đã được TBT Nguyễn phú Trọng đề cập đến trong bài bế mạc HN TƯ 5. Trên lĩnh vực sử dụng đất đai, ngay sau ĐH XI đã xẩy ra liên tiếp một số vụ cưỡng chế gây bức xúc dư luận xã hội. Cụ thể là các vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Tiên lãng, rồi đến vụ cưỡng chế tại Bắc Giang, tại Vụ Bản, …. để rổi tiếp đến vụ cưỡng chế tại Văn Giang. Trong khi đó thì lại có đề án đầu tư xây dựng sân bay quốc tế và điểm vui chơi giải trí có casino tại Vân Đồn, ….. Hậu quả là quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, đất đã chuyển dịch sang mục đích phi nông nghiệp bị sử dụng lãng phí, có những đề án treo kéo dài có tới cả chục năm. Gắn với đó là tình hình an ninh xã hội bị suy giảm, với việc khiếu kiện về đất đai kéo dài có khi tới cả chục năm vẫn không được giải quyết, 70% khiếu kiện tập trung vào lĩnh vực đất đai. Phải chăng do đó có thể đề cặp đến loại hình “đất tặc” ?
- Với tình hình tăng chênh lệch về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn (nhất là đối với vùng núi, vùng đồng bào dân tộc, …), phải chăng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH công nghiệp, chúng ta đã đi vào vết xe đổ (công nghiệp bóc lột nông nghiệp, thành thị bóc lột nông thồn) của quá trình CNH TBCN, trong đó có với việc phát triển tình trạng công nghiệp bóc lột nông nghiệp, thành thị bóc lột nông thôn ?
- Lâm tặc tiếp tục phát triển và đã hiện diện tại Hà nội với việc cướp chặt cây sưa. Rồi lại đến vụ chặt cây sưa trị giá bạc tỷ tại Vườn quốc gia Phong Nha, … Ngoài đó ra, còn phải kể đến sa tặc, vàng tặc, than tặc, …. vẫn đang tiếp tục hoạt động mà chúng ta chưa loại bỏ được. Điều đáng chú ý là các tặc này, qua thực tế kinh nghiệm của thế giới, đều có những hoạt động móc nối với đội ngũ cán bộ trong bộ máy chính quyền để có thể hoạt động được. Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến HN TƯ 4 đã có quyết định về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
- v.v. …
4 – Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Nếu chỉ kể từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ ĐH VII (1994) thì mô hình CNH, HĐH nền kinh tế đã trải qua 18 năm. Sau 7 năm triển khai, đến ĐH IX (2001) đã xác định có những yếu kém, sai sót trong quá trình thực hiện mô hình CNH, HĐH XHCN. Từ ĐH IX đến nay, sau 11 năm, chúng ta vẫn không khắc phục được những yếu kém, sai sót của quá trình tổ chức thực hiện mô hình này.
- Do đó, nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế bao hàm nhiệm vụ phải tiếp tục thực hiện mô hình CNH, HĐH XHCN nhưng với nhiệm vụ khắc phục những yếu kém sai sót đã được chính thức xác nhận từ 2001 nhưng đến nay vẫn chưa khắc phục được. Tại bài khai mạc HN TƯ 5, trong một chừng mực nhất định, TBT Nguyễn phú Trọng đã xác định là cần phải làm rõ những nguyên nhân dẫn đến việc kéo dài những sai sót, yếu kém thì mới có thể xác định được những giải pháp thực sự có hiệu lực và hiệu quả để khắc phục những tồn tại đó.
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những yếu kém, sai sót trong quá trình CNH, HĐH XHCN đã được đề cập đến trong bài bế mạc HN TƯ 3 như đã trích ở trên là đã xẩy ra tình trạng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đã được phê duyệt đều bị chi phối ở những mức độ nhất định bởi “tư duy nhiệm kỳ”, tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí hay “lợi ích nhóm”. Do đó, việc rà soát, điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sánh để khắc phục được những khuyết tật của mô hình tăng trưởng cũ là một quá trình đấu tranh nội bộ gay go và phức tạp. Khi xây dựng Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, Bộ KH&ĐT đã tiến hành cuộc đấu tranh này chưa hay vẫn triển khai xây dựng Đề án này theo quán tính lâu nay vẫn thực hiện ?
5 – V.v. ….
IV Về nhiệm vụ CNH - HĐH nông nghiệp
Nhiều đại biểu nhấn đến nhiệm vụ phải tập trung thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp để phát triển nông nghiệp. Từ đó, phải điều chỉnh phương án phân bổ nguồn lực một cách thích hợp để đảm bảo sự phát triển nông nghiệp. Phải chăng vì quán triệt quan điểm điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng đó nên, khi kết luận buổi họp, Phó Chủ Tịch Quốc Hội, Nguyễn thị Kim Ngân đã diễn đạt nội dung tái cơ cấu ngành theo hướng đặt nông nghiệp lên hàng đầu, trước hai ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong chừng mực nhất định, đó là sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế từ xu hướng tập trung phát triển công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của thời gian qua. Do đó, việc tái cơ cấu nền kinh tế cần quán triệt hướng tăng tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu ngành. Đấy là xu thể tái cơ cấu ngành hợp lý vì mấy lý do chủ yếu sau đây :
- Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới cho thấy thực tiễn cuộc sống đỏi hỏi trước hết phải đảm bảo an ninh lương thực (và nước uống) vì nếu không có cái ăn và không có nước uống thì con người không thể tồn tại. Trong khi đó, nếu không có xe hơi, không có TV, tủ lạnh, nhà lầu, … thì con người vẫn có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Đó cũng là điều được thể hiện trong câu tổng kết dân gian là “có thực mới vực được đạo”.
- Kinh tế biển là một bộ phận cấu thành của ngành nông nghiệp. Trước tình hình tài nguyên trên đất liền đạng bị cạn kiệt nên thế kỷ XXI được thế giới xem là “Thế kỷ đại dương”. Nghị quyết “Về chiến lược biến Việt nam đến năm 2020” của HN TƯ 4, K X đã xác định Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyển chủ quyền quốc gia trên biển, dảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh. …. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. (Văn kiện HN lần thứ tư, BCH TƠ K X, tr 76). Thực hiện Nghị quyết về chiến lược phát triển biển Việt nam thì chắc chẵn sẽ tăng tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và đấy là một xu thế khách quan.
Theo Bộ trưởng Bộ KH&ĐT thì đã có đề án về phát triển nông nghiệp, đã được CP phê duyệt vè cơ bản. Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của nhiệm vụ tăng (không phải là giảm) GDP của nông nghiệp trong tái cơ cấu nền kinh tế, đề nghị các Đại biểu Quốc hội nên dành thời gian cần thiết để nghiên cứu, gớp ý nhằm hoàn chỉnh đề án phát triển nông nghiệp tuy đề án này đã được Chính phủ phê duyệt về cơ bản.
Phần II: Về thẩm quyền phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế.
Qua cách xác định thẩm quyền phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế nh đ/c Phó Chủ tịch Quốc hội đã đề cập đến trong phàn kết luậ Hội nghị, tôi cảm nhận thấy có vấn đề vi phạm Hiến Pháp hiện hành trong việc xác định thẩm quyền của Quốc Hội và thẩm quyền của Chính phủ. Cụ thể là điều 83 của Hiến pháp hiện hành đã xác định là “Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, ….”. Trong khi đó, theo điều 112, khoản 4 của Hiến pháp hiện hành thì Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn “Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; …”. Từ đó này sinh câu hỏi “thẩm quyền phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế thuộc về Quốc hội hay thuộc về Chính phủ ?” Theo kết luận của Phó Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn thị Kim Ngân thì thẩm quyền đó thuộc về Chính phủ. Kết luận đó đúng hay sai ?
Trong lĩnh vực này, tôi nhận thức là giao thẩm quyền quyết định và phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế cho Chính phủ là đã làm sai Hiến pháp hiện hành nhưng lại là một cách làm đã có tiền lệ hiện thực từ nhiều năm. Cụ thể như sau.
1 – Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế là một đề án chiến lược, có tầm quan trọng ảnh hưởng đến mọi mặt của nền kinh tế-xã hội và có tác động kéo dài trong thời hạn 5-10 năm. Mặt khác, đề án lại còn nhiệm vụ khắc phục những yếu kém, khiếm khuyết kéo dài hàng chục năm nên đề án càng có tầm quan trọng. Nhìn chung, với hai nguyên nhân chủ yếu nói trên, đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế phải là một đề án thuộc phạm vi phê duyệt của Quốc hội và, theo điều 112 của Hiến pháp, nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong việc này là “thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân” chứ không phải là quyết định, phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế.
2 – Cách giao cho Chính phủ thẩm quyền phê duyệt các đề án có tầm quan trọng lớn trong khi Quốc hội chỉ tham gia góp ý kiến hoặc phê duyệt các đề án có tầm quan trọng và quy mô nhở hơn lại là cách làm đã hình thành từ nhiều năm, tạo thành một tiền lệ vi phạm Hiến pháp nhưng lại không được chú ý đúng mức. Có thể dẫn một số trường hợp cụ thể sau đây :
- Theo nội dung dự thảo Luật Thủ đô, Chính Phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Thủ Đô”. Chiến lược này là căn cứ để xây dựng “Quy hoạch phát triển chung Thủ đô”. Quy hoach này lại được trình Quốc Hội để có ý kiến. Trên cơ sở đó, Chính phủ hoàn chỉnh và phê duyệt để triển khai, thực hiện Quy hoạch. Như vậy, với quá trình này, Chính phủ vẫn là người có thẩm quyền quyết định vấn đề lớn là Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thủ Đô còn Quốc Hội chỉ tham gia góp ý vào Quy hoạch chung của Thủ đô để Chính phủ tiếp thu, hoàn chỉnh và quyết định tổ chức triển khai Quy hoạch.
- Quốc hội đã có những Nghị quyết về các dự án, công trình quan trọng quốc gia phải được trình để Quốc hội xem xét và quyết định chủ trương đàu tư. Nghị quyết mới nhất là Nghị quyết 49/2010/QH 12. Nội dung chủ yếu của Nghị quyết tập trung làm rõ các tiêu chí khác nhau về quy mô công trình, về một số loại công trình đặc biệt phải được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư. Để thực hiện Nghị quyết đó của Quốc Hội, Chính phủ đã trình Quốc hội các dự án đầu tư xây dựng thủy điện Sơn la, thủy điện Lai châu, đường sắt cao tốc Bắc – Nam, ……Thực tế đó dẫn đến một nghị lý là các quy hoạch phát triển điện lực, phát triển màng lưới đường sắt, … là những quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt. Do đó Quốc Hội chỉ tham gia phê duyệt chủ trương đầu tư của một dự án cấu thành của quy hoạch ngành đã được Chính phủ phê duyệt. Mặt khác, nội dung của dự án trình Quốc hội xem xét để phê duyệt, về thực chất là đề nghị Quốc Hội xem xét để lựa chọn, phê duyệt một trong những phương án đã hình thành để thực hiện dự án đầu tư công trình được đưa trình. Với cách làm như vậy, trong thực tế, việc phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án quan trọng thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ còn Quốc hội chỉ lựa chọn, phê duyệt phương án đầu tư được coi là có hiệu quả nhất trong các phương án được trình xem xét chứ không phải là phê duyệt chủ trương đầu tư.
Xuất phát từ thực trạng đó, đề nghị xem xét việc điều chỉnh, xác định là Quốc Hội phải thực hiện thẩm quyền phê duyệt “Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế” và giao cho Chính phủ trách nhiệm tổ chức thực hiện đề án đó, hàng năm báo cáo kết quả thực hiện đề án đó cùng với báo cáo thực nhiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội hàng năm.
N.Lang