|
Trong những khiếu kiện về đất đai, chiếm 70-80% tổng số các
khiếu kiện, cuối cùng rồi phần thiệt thòi vẫn thuộc về người dân, vì
Luật Đất đai hiện tại đã được thiết kế với nhiều lỗ hổng khiến các viên
chức nhà nước có cơ hội lạm dụng và tham nhũng. Lý do mấu chốt nhất là
khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, mà mỗi người dân thoạt nghe
đều rất khoái, nhưng suy ra thì không có mình trong cái “toàn dân” ấy.
Tôi còn nhớ thuở làm đại biểu Quốc hội, sau khi thành công trong việc
tạo sự kiện thực tế để trung ương có căn cứ ban hành chính sách “Khoán
100” một thời gian thì tiếp đến phải tham gia ý kiến xây dựng Luật Đất
đai đầu tiên năm 1987. Mục tiêu chủ yếu lúc đó là để chận đứng sự lạm
quyền của các viên chức xã, huyện tự ý lấy đất khoán của nông dân đã đầu
tư sửa sang thật tốt để giao lại cho người khác, buộc nông dân này nhận
miếng đất khoán khác chưa được sửa sang gì. Sau hai ba lần bị thay đổi
đất khoán, nông dân không ai còn muốn đầu tư vào mảnh đất khoán một vụ
của mình cả. Sản lượng lúa cả nước không còn tăng nữa. Kết quả là Luật
Đất đai 1987 ra đời với “Khoán 10” đã khiến sản lượng lúa năm 1989 tăng
cao chưa từng thấy, và Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ quí 4-1989.
Bản thân tôi thấy Luật Đất đai 1987 chỉ là giải pháp tình thế chứ không
phải là một giải pháp hợp đạo lý xã hội Việt Nam. Quả đúng như thế. Vì
Luật Đất đai 1987 chưa phù hợp đạo lý xã hội Việt Nam nên phải được sửa
lại lần 1 vào năm 1993, sửa đổi lần 2 năm 1998, sửa đổi lần 3 năm 2001,
lần 4 năm 2003, lần 5 năm 2009, và năm 2012 Nhà nước đang chuẩn bị đưa
ra Quốc hội sửa đổi lần 6. Lại những tốn kém sức người và kinh phí một
cách lãng phí nếu lần sửa đổi này cũng lại đưa ra những điều khoản bằng
những câu văn hoa mỹ nhưng vẫn chưa đi vào thực tế phù hợp xã hội Việt
Nam, để tiếp tục tạo cơ hội cho lạm dụng và tham nhũng. Đã đến lúc xây
dựng bộ luật mới về đất đai - sở hữu cơ bản nhất của mỗi con người sống
trên quả đất này.
Nguyên nhân chính gây nên những bất ổn về đất đai
Những cuộc kiện cáo, khiếu nại, xô xát lẫn nhau vì đất đai từ khi hòa
bình lặp lại đến giờ, phần lớn đều do khái niệm “đất đai thuộc sở hữu
toàn dân”. Khi Quốc hội thảo luận dự án Luật Đất đai năm 1987, tôi đã
nêu lên chính sách ruộng đất của nước ta từ thời Lê sơ, bắt đầu từ vua
Lê Thái Tổ và kế đến là Lê Thánh Tông, được ghi trong Bộ luật Hồng Đức
từ năm 1483 lưu truyền đến thế kỷ 18.
Từ cuối thế kỷ 15, Bộ luật
Hồng Đức đã công nhận ba loại chủ sở hữu đất đai, đó là chính nhà vua,
quan chức cai quản làng xã, và người tư nhân cá thể, hoàn toàn không có
khái niệm “sở hữu toàn dân”.
Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa vẫn kế thừa đạo lý xã hội Việt Nam, đã thừa nhận “bảo
hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân”
(điều 14) và chỉ coi “đất hoang” mới thuộc sở hữu toàn dân (điều 12).
Khi Quốc hội thảo luận xây dựng Hiến pháp 1980 và sau này Hiến pháp 1992
kế thừa thì đất đai (toàn bộ đất đai nói chung) được tuyên bố là tài
sản thuộc sở hữu toàn dân, các ý kiến trái lại xem xét theo Hiến pháp
1959 đều không được chấp nhận. Theo LS. Trần Hữu Huỳnh (xem TBKTSG
số ra ngày 2-2-2012), Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI), xuất hiện lần đầu tiên trong Hiến pháp 1980 khái
niệm sở hữu toàn dân về đất đai thực ra không phải được hình thành dựa
trên một nền tảng lý luận khoa học nào cả mà chỉ là từ ý kiến của một
vài vị lãnh đạo sau thời kỳ miền Nam vừa giải phóng.
Khái niệm
“đất đai thuộc sở hữu toàn dân” trong Luật Đất đai 1987-2009 đã tạo kẽ
hở cho tham nhũng, lạm dụng chiếm hữu đất đai của dân. Hàng trăm nông
trường, lâm trường đã được thiết lập trên đất công nhưng cũng không ít
nông trường xây dựng trên đất của dân, gây nên tranh chấp cho đến ngày
nay. Nhiều nông trường và lâm trường làm ăn thua lỗ, gây tổn phí cho
ngân sách quốc gia, đã bị bỏ hoang. Nhiều doanh nghiệp tư nhân thấy thế,
bèn đến xin khai thác, bỏ vốn đầu tư lập thành trang trại sản xuất cây
trồng vật nuôi, biến đất bỏ hoang cỏ ngập đến đầu thành nông trang hiện
đại.
Đến lúc đó chủ trang trại bị hăm là đất trang trại của họ
sắp bị tịch thu vì Luật Đất đai không cho cá nhân tích tụ ruộng đất quá 3
héc ta trong khi phần lớn trang trại tư nhân ít nhất 10-100 héc ta,
thậm chí có trang trại cao su lên đến 650 héc ta. Ngày 25-7-1999, chúng
tôi cùng một số cơ quan báo chí khu vực phía Nam đã hội thảo bàn về vai
trò của trang trại trong phát triển nông nghiệp Việt Nam vừa sản xuất
hàng hóa cho xã hội, vừa tham gia công cuộc xóa đói giảm nghèo bằng cách
đầu tư, sử dụng và quản lý đất đai hữu hiệu. Sau đó Tổng bí thư Lê Khả
Phiêu, rồi Bộ trưởng Lê Huy Ngọ vào Nam, đi xác định vị trí kinh tế của
hình thức trang trại, đã chấp nhận cho ra đời một chính sách mới ngoại
lệ với Luật Đất đai là các cá nhân có quyền mướn thêm đất ngoài phần đất
định mức đã được giao để đầu tư xây dựng trang trại, đất của trang trại
được Nhà nước bảo hộ không bị tịch thu hoặc quốc hữu hóa. Nhờ thế phong
trào trang trại như nở hoa.
Từ ngữ không phản ánh đúng bản chất
Nhưng những người “chủ trang trại” cũng như những người “chủ ruộng
vườn” vẫn chưa hết lòng đầu tư cho phần đất được Nhà nước giao vì họ vẫn
thấp thỏm sợ một ngày không ngờ sẽ bị tước đi mọi đầu tư của mình trên
khu đất này. Họ sợ khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”.
Người dân nào cũng muốn trở về mảnh đất mà tổ tiên mình đã có công khai
thác và truyền lại trong tộc họ mình. Ở miền Nam, ở một số địa phương
nơi những người Nam tiến bước chân đến khai hoang lập nghiệp như ở vùng
Sài Gòn, và các tỉnh xung quanh Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Long
An, Tiền Giang... người chủ đất đã trối trăn cho con cháu phải chôn mình
ngay trên đất hương hỏa để giữ đất tổ tiên, chứ đừng chôn nơi nghĩa
địa. Sự gắn bó với đất đai của tổ tiên mãnh liệt như thế, cho nên khi
Nhà nước tước đi quyền sở hữu đất đai của nông dân, thì trong xã hội,
nhất là ở miền Nam, đã ngấm ngầm một sự bất bình.
| Những
người “chủ trang trại” cũng như những người “chủ ruộng vườn” vẫn chưa
hết lòng đầu tư cho phần đất được Nhà nước giao vì họ vẫn thấp thỏm sợ
một ngày không ngờ sẽ bị tước đi mọi đầu tư của mình trên khu đất này.
Họ sợ khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. |
Người dân phải giao dịch với nhau bằng những cụm từ không phản ánh đúng
bản chất giao dịch, thí dụ thay vì coi sổ đỏ “Quyền sử dụng đất” thì
dùng nó như “Bằng khoán đất” đem đi thế chấp khi mượn tiền của một cá
nhân hay của ngân hàng; mua bán đất thì cũng đem sổ đỏ “Quyền sử dụng
đất” giao cho người mua, gọi là chuyển quyền sử dụng đất. Kiểu giao dịch
qua sổ đỏ như thế này gây nhiều trở ngại đối với đầu tư nước ngoài, tuy
dần dần người nước ngoài cũng quen kiểu này.
Trong phát triển
nông nghiệp, luật Việt Nam vì muốn thu hút đầu tư nước ngoài nên đã bất
chấp công bằng xã hội, luôn ưu tiên cho người nước ngoài, coi thường
người trong nước, nhất là trên phương diện diện tích và thời gian đầu
tư. Người nước ngoài không bị khống chế diện tích trong khi người Việt
Nam phải theo luật không được tích tụ trên 3 héc ta/người. Thời gian
thuê đất của người nước ngoài có thể đến 50 năm, người Việt Nam thì
không được dài lâu như thế.
Tuy nhiên, trong thực tế vì nhu cầu
phát triển, những người nông dân có tay nghề quản lý kinh doanh giỏi đều
không chịu bó tay với luật. Từ tiền lãi thu về sau mỗi vụ lúa, họ mua
đất thêm bằng cách dàn xếp với mỗi chủ sổ đỏ đứng tên giùm mình. Và phần
lớn những người chủ sổ đỏ của mảnh đất 1-2 héc ta sau khi bán đất mình
cho chủ mới, được thu dụng làm công cho chủ mới một cách khỏe re, không
bận tâm lo tiền cày cấy, mua giống, mua thuốc, mua phân, bơm nước. Mọi
thứ “nát óc” cho 1-2 héc ta trước đây đều có ông chủ mới lo một cách chu
toàn cho cả đồn điền lớn của họ.
Tính ra những người chủ đất
nhỏ khi làm công cho chủ đồn điền lớn đều được hưởng lợi đầy đủ hơn khi
tự mình lo sản xuất như trước kia. Hiện nay trên ĐBSCL đã có hàng trăm
đại gia đồn điền lúa điển hình thành công lớn như anh Sáu Đức (Nguyễn
Lợi Đức) ở Lương An Trà, Tri Tôn, An Giang; anh Hùng và chị Hạnh (Lê Thị
Hạnh) ở Thoại Sơn, An Giang; anh Ba Tráng (Trần Văn Tráng) ở Hưng Điền,
Tân Hưng, Long An; anh Út Huy (Võ Quang Huy) ở Đức Huệ, Long An. Anh Ba
Hạo (Đỗ Hữu Hạo) ở Hòn Đất, Kiên Giang, có 55 héc ta chuyên trồng khoai
lang xuất khẩu sang Nhật Bản. Các đại gia sản xuất lúa có trong tay vài
trăm héc ta đất nhưng không muốn công bố rộng rãi, vì họ không biết số
phận ra sao khi năm 2013 sắp đến Nhà nước sẽ thu hồi đất lại chăng? Hàng
trăm chủ trang trại lúa khác có diện tích bình quân từ 30-40 héc ta.
Chắc chắn nếu Luật Đất đai sửa đổi tới đây không đá động gì đến hạn điền
và sở hữu tư nhân về đất đai, Nhà nước đến hạn thu hồi lại đất vào năm
2013 sẽ có một sự khủng hoảng lớn sẽ xảy ra, sản xuất lúa chắc chắn sẽ
bị chựng lại!
Mâu thuẫn chính sách: hạn điền và cơ cấu kinh tế
Đảng và Nhà nước nhận thức được rằng sự phát triển của các quốc gia
tiên tiến đều tiến theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế giảm dần tỷ lệ
khu vực nông nghiệp để chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Do đó
chiến lược của Việt Nam cũng phải như thế. Ngày nay ở các nước tiên
tiến khu vực nông nghiệp chỉ còn khoảng 10% lao động, thậm chí ở Hà Lan
chỉ còn 2,5% lao động. Khi khu vực công nghiệp và dịch vụ phát triển
lên, họ sẽ thu hút lao động vào các khu vực ấy. Dĩ nhiên Luật Đất đai
của họ cũng phải theo hướng ấy, tức là không còn hạn điền nữa. Trong khi
đó, Luật Đất đai của ta bắt buộc người lao động Việt Nam phải dàn đều
mỗi người 3 héc ta đất khắp nước thì làm sao thu nhỏ lại được tỷ lệ 75%
lao động nông nghiệp hiện nay?
Hai vấn đề mấu chốt của Luật Đất
đai cần sửa đổi ngay: bỏ “hạn điền 3 héc ta” và công nhận “sở hữu tư
nhân” về đất đai. Cái được lớn nhất là các viên chức địa phương và trung
ương sẽ ít có cơ hội tham nhũng, lạm dụng chức quyền đối với vấn đề đất
đai của nhân dân. Nhà nước vẫn có thể sòng phẳng với nhân dân khi cần
trưng dụng đất đai cho các mục tiêu quốc phòng, làm đường sá, xây công
trình công cộng, xây dựng đô thị, xây khu công nghiệp... Khi phải trưng
dụng đất của dân đang canh tác, Nhà nước sẽ sử dụng phần đất công của
mình (thí dụ đất rừng đang khai thác) để tạo lập một vùng canh tác mới
có đủ cấu trúc hạ tầng để đổi lại cho nông dân như kiểu thành lập những
đồn điền dầu cọ FELDA của Malaysia.
Nhưng bù lại chúng ta sẽ
được nhiều cái lợi. Thứ nhất là yên lòng nhân dân, làm dân tin tưởng vào
sự sáng suốt của Đảng, Nhà nước và Quốc hội; phát triển sản xuất sẽ
tăng gấp nhiều lần vì có sự đầu tư thật sự vào đất của mỗi hộ gia đình,
và tiến tới thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế đất nước.
Thứ hai là, Nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương sẽ không còn
phải tốn công sức để xử các khiếu kiện về đất đai, dành thời giờ để lo
sản xuất, phát triển kinh tế đất nước.
|
Ba loại sở hữu ruộng đất từ thời nhà Lê
Sách sử nhà Lê sơ ghi lại rằng, sau khi đất nước được hoàn toàn giải
phóng, vua Lê Thái Tổ một mặt cho 25 vạn quân về làm ruộng, lấy lại
ruộng đất cũ của mình và khôi phục sản xuất, mặt khác kêu gọi nhân dân
phiêu tán trở về quê cũ, cùng nhau xây dựng lại xóm làng, đồn điền, nghề
nghiệp. Để đảm bảo an toàn cho sản xuất, Thái Tổ hạ lệnh cho các làng
làm sổ ruộng đất và trên cơ sở đó, nhà nước chủ động phân phối. Ruộng
đất được phân phối làm ba bộ phận chính:
1. Ruộng đất thuộc sở
hữu nhà nước: Tất cả những ruộng đất tịch thu được của chính quyền đô hộ
và quan lại cũ, ruộng đất không chủ đều thuộc sở hữu nhà nước. Với số
lượng rất lớn, nhà nước sử dụng nó dưới các hình thức sau:
Loại
do nhà nước trực tiếp quản lý, được gọi là ruộng quốc khố hay ruộng
công. Loại này được cấp cho các quan địa phương hay trung ương, phát
canh cho nông dân hoặc giao cho những người bị tội đồ cày cấy.
Loại cấp cho các công thần hay quan lại. Ngay sau khi lập xong các sổ
ruộng đất làng xã, vua Lê thực hiện việc phong thưởng cho các công thần
của sự nghiệp giải phóng đất nước. 221 người được phong tước hầu, tước
trí tự và cấp ruộng từ 300-500 mẫu. Các triều vua tiếp sau, đôi lúc cũng
phong thưởng ruộng đất cho các đại thần có công. Đây là loại ruộng công
thần. Thời Lê Thánh Tông, chế độ lộc điền được ban hành, theo đó các
quan lại từ tam, tứ phẩm trở lên cho đến các vương, hầu, bá được cấp một
số ruộng tùy chức tước. Ruộng lộc chia làm hai loại: loại cấp vĩnh viễn
gọi là ruộng thế nghiệp chủ yếu dành cho các vương hầu, công chúa, loại
cấp một đời gọi là ruộng ân tứ (15-130 mẫu cho quan từ 1-4 phẩm). Ruộng
lộc chỉ cấp cho quan chức từ 4 phẩm trở lên. Các chức thấp hơn chỉ được
hưởng phần ruộng công ở làng theo chế độ quân điền. Sau khi viên quan
được cấp chết ba năm thì nhà nước thu lại.
Loại đồn điền: do nhà
nước tổ chức khai hoang thành lập. Nông dân cày đồn điền chủ yếu là
người bị tù tội, nông dân lưu tán nghèo đói được mộ. Loại này phát triển
từ sau năm 1481, khi Thánh Tông quyết định thành lập 43 sở đồn điền ở
địa phương.
2. Ruộng đất công làng xã: Loại ruộng đất này có
nguồn gốc từ xa xưa, được duy trì cho đến thế kỷ 15 ở các làng xã nhưng
với tỷ lệ khác nhau. Từ thời Thái Tổ, nhà nước đã đặt vấn đề phân chia
ruộng đất công làng xã cho dân làng ít hoặc không ruộng đất, quân lính.
3. Ruộng đất tư hữu: phát triển từ những thế kỷ trước, đến thế kỷ 15,
có điều kiện ngày càng mở rộng. Đất tư hữu thực chất là đất của các tiền
nhân đã tiên phong đến những nơi rừng sâu nước độc hoặc đầm lầy khai
hoang lập ấp, hoặc đất công điền của vua ban cho các vị công thần rồi
các vị công thần này phân phối lại cho bà con dòng họ, người thân trong
làng, hoặc ruộng của địa chủ và một số ít điền trang. Sự gia tăng của
hàng ngũ quan lại góp phần làm cho bộ phận ruộng tư hữu của địa chủ ngày
càng phát triển, trong lúc đó các điền trang ngày càng thu hẹp lại.
|
|