Nhìn bức tranh kinh tế toàn cảnh những năm qua. Hiển nhiên điều chúng ta phải thừa nhận những bất ổn của nền kinh tế đều được phát sinh, phát triển và nở rộ từ góc, mảng lớn huyết mạch của nền kinh tế là tài chính ngân hàng do vậy Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu cải cách nhanh, triệt để hệ thống tổ chức tín dụng.Mặc dù bối cảnh kinh tế nhiều thách thức của năm 2012 này mục tiêu đặt ra có khả thi hay không thì cũng phải thực hiện giữa nói và làm phải song hành tức khắc?
Kinh nghiệm các nước cho thấy thời điểm được coi là hợp lý để cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng là lúc nền kinh tế có mức lạm phát tương đối thấp, qua đó tạo dư địa cho sự can thiệp mạnh của Chính phủ và ngân hàng trung ương vào hệ thống. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam hiện vẫn chịu áp lực lạm phát cao, tồn tại những yếu tố có thể gây bất ổn vĩ mô. Nguồn lực của Chính phủ hạn chế do thâm hụt ngân sách lớn, nợ công đã ở mức cao và đang tăng nhanh. Chính sách tài khóa, tiền tệ vẫn phải tập trung cho những mục tiêu này.Nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận thấy sự bất ổn đầu tiên gây bất ổn cho toàn nền kinh tế là do hệ thống tài chính tín dụng và ngân hàng của ta sức khỏe không ổn định và từ đó kinh doanh không “lành mạnh “?
Trước hết cần có một khung pháp lý cho việc cơ cấu lại doanh nghiệp, tài chính, ngân hàng, về phá sản, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp. Việc này hoàn toàn không quá khó mà chúng ta phải lấy trọng tâm là mục tiêu vì lợi ích quốc gia vì quyền lợi của toàn dân và phải nhìn thẳng vào sự thật nói rõ sự thật để tìm ra nguyên nhân của mọi vấn đề đó là phải có giải pháp công khai minh bạch tất cả các hoạt động kinh doanh.
Thuận lợi là nhận được sự đồng thuận của toàn dân vì người dân ai cũng hiểu nếu hệ thống tài chính ngân hàng không ổn định đương nhiên sẽ bất ổn cho toàn nền kinh tế và đặc biệt là vận mệnh kinh tế đất nước cần phải làm ngay việc tái cấu trúc các tổ chức tín dụng cũng có những thuận lợi khi được đặt trong chương trình tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế (bao gồm cả tái cơ cấu đầu tư, doanh nghiệp).
Hệ thống các ngân hàng cũng cần có ý thức rõ ràng về sự cần thiết phải cơ cấu lại để hoạt động an toàn và hiệu quả hơn. Trong vài năm tới, Việt Nam không bị quá câu thúc bởi mục tiêu tăng trưởng kinh tế để tập trung ổn định kinh tế vĩ mô. Do vậy thực hiện quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, tuy có khó khăn, nhưng hoàn toàn thực hiện được.
Những việc cần làm ngay của Ngân hàng Nhà nước khi triển khai tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Thứ nhất là thực hiện giải pháp khuyến khích sáp nhập, hợp nhất, mua lại ngân hàng. Việc làm này được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền cũng như các bên liên quan. Đây cũng là cơ hội để các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh có thể tăng nhanh về quy mô cũng như khả năng cạnh tranh.
Thứ hai là Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tiến hành đánh giá, phân loại tổ chức tín dụng để có biện pháp xử lý phù hợp. Lành mạnh hóa tài chính của các ngân hàng thông qua xử lý nợ xấu, củng cố các ngành nghề kinh doanh chính, rút dần khỏi các lĩnh vực rủi ro, kém hiệu quả.
Thứ ba ưu cầu các ngân hàng cần tập trung vốn nhiều hơn cho các lĩnh vực ưu tiên, từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng, tăng nguồn thu từ dịch vụ… Bên cạnh tái cơ cấu tài chính, để hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, bền vững, hiệu quả sau đó thì quan trọng hơn là phải đổi mới quản trị, hoạt động, tiến gần tới các tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ tư Ngân hàng nhà nước cùng Chính phủ sẽ tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật, bao gồm chuẩn mực an toàn, hệ thống kế toán cũng như những quy định cụ thể của nghiệp vụ ngân hàng (cấp phép, đóng cửa chi nhánh, phòng giao dịch…). Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tăng cường, đổi mới và nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng để kịp thời phát hiện những bất ổn, sai phạm.
Thứ năm là tổng lực các biện pháp nhằm đảm bảo cho quá trình tái cơ cấu được tiến hành thuận lợi, an toàn, loại trừ nguy cơ đổ vỡ. Nếu được triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, đến năm 2015, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam sẽ được lành mạnh hóa một bước về tài chính cũng như hoạt động. Số lượng tổ chức tín dụng nhỏ, yếu kém sẽ giảm đi, thay vài đó là một số ngân hàng quy mô lớn hơn, có khả năng cạnh tranh và đặc biệt là tăng cường được vị trí chi phối của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong toàn hệ thống.
Thứ sáu thực hiện vấn đề chia sẻ chi phí cho quá trình tái cấu trúc cần được công bố và áp dụng công khai minh bạch trong quá trình cơ cấu, đặc biệt là xử lý những tổ chức tín dụng yếu kém, ngân hàng thương mại Nhà nước và các ngân hàng cổ phần lành mạnh sẽ là lực lượng chủ lực, bên cạnh sự hỗ trợ thích hợp của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Sự hỗ trợ này bao gồm cả cơ chế, chính sách cũng như nguồn lực.
Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước “bao cấp” toàn bộ cho tái cơ cấu. Tổn thất và chi phí trong quá trình xử lý yếu kém cần được đảm bảo ở mức thấp nhất và được chia sẻ hợp lý giữa các bên (Nhà nước, chủ sở hữu, nhà đầu tư và người gửi tiền) theo quy định của pháp luật. Trong đó, chủ sở hữu ngân hàng phải chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng về những tổn thất xảy ra. Lợi ích của Nhà nước, tài sản của nhân dân do đó, sẽ phải được bảo vệ tốt nhất.
Thứ bảy Nhìn nhận rõ yếu tố then chốt quyết định đến kết quả tái cơ cấu ngân hàng là lựa chọn khôn ngoan các giải pháp triển khai, huy động được sự tham gia của khu vực tư nhân và duy trì được lòng tin của nhân dân. Tất nhiên phải bảo đảm vai trò chủ đạo, kiểm soát của Chính phủ trong toàn bộ tiến trình cơ cấu. Điều quan trọng nhất đó là phải đặt lợi ích của dân tộc sự ổn định đời sống của toàn dân và quá trình hồi phục ổn định phát triển bền vững của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Cần phải thực hiện ngay và quyết liệt để lấy lại niềm tin của người dân trong bối cảnh đầy khó khăn và thách thức.
Mai Phương TH