Trong các thập kỷ gần đây ngày càng có nhiều bằng chứng xác thực về khí hậu Trái đất đang nóng lên. Theo Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), hiện tượng nóng lên toàn cầu không còn đơn thuần là thảm họa môi trường mà đã trở thành nguy cơ đe dọa quá trình phát triển bền vững của toàn thế giới.
Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia có nhiều khả năng chịu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH). Trên thực tế Việt Nam đã có những biểu hiện của BĐKH về các yếu tố khí hậu cơ bản (nhiệt độ, lượng mưa…) cũng như các yếu tố thời tiết cực đoan (bão, mưa lớn, hạn hán…).
Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng , Viện phó Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho biết: “Chúng tôi vừa hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về tác động BĐKH toàn cầu đối với Việt Nam. Chúng tôi đã đề xuất với các cơ quan chức năng các giải pháp chiến lược nhằm thích ứng với sự BĐKH và giảm nhẹ tác động xấu do BĐKH gây ra.
Nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam (mức độ và xu thế biến đổi); Kịch bản của biến đổi khí hậu cho Việt Nam (nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển); Tác động của biến đổi khí hậu đối với điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế xã hội, các vùng địa lý – khí hậu ở Việt Nam; Giải pháp chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam”.
Sau 3 năm nghiên cứu, khảo sát, phân tích, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng và các cộng sự đã lập ra được Tập bản đồ biến đổi khí hậu ở Việt Nam với những thông số chi tiết về sự biến đổi các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, đường đi của bão và mực nước biển tại các địa phương.
Kẻ thù nguy hiểm nhất – nước biển dâng
Đề tài cũng đã xây dựng kịch bản BĐKH ở Việt Nam trong thế kỷ 21, theo đó, mực nước biển dâng là đáng lo ngại nhất. Mực nước biển cuối thế kỷ so với năm 1990 ở Việt Nam đã được ước lượng theo các bộ kịch bản nước biển dâng toàn cầu dựa trên tương quan so sánh về tốc độ xu thế nước biển toàn cầu và tốc độ xu thế của nước biển ở Việt Nam. Theo phương án một, mực nước biển dâng vào cuối thế kỷ 21 ứng với các kịch bản phát thải khí nhà kính cao, trung bình và thấp là 89, 80 và 65 cm. Theo phương án hai, mực nước biển dâng tại Việt Nam sẽ là 76, 72 và 57 cm.
Bên cạnh đó, lượng mưa sẽ tăng vào mùa mưa nhưng lại giảm vào mùa khô, làm trầm trọng thêm tình trạng hạn hán, gia tăng tính cực đoan của khí hậu.
Biến đổi khí hậu gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan.
Theo kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình toàn cầu, vào năm 2050 Việt Nam có trên 8.000 km2, tức khoảng 2,4 – 2,5% diện tích tự nhiên thấp hơn mực nước biển và đến năm 2100 có trên 22.000 km2, tức khoảng 6,7% diện tích lãnh thổ. Những con đê biển đuối sức trong việc bảo vệ đất đai. Nhiều cánh đồng muối như thế này sẽ biến mất. Những miệt vườn ở đồng bằng sông Cửu Long cũng sẽ ngập chìm trong nước.
Nhìn trên quy mô toàn quốc, khu vực nào của Việt Nam sẽ chịu hậu quả nặng nề nhất từ sự BĐKH? Bà Phạm Thị Thanh Hương, cán bộ Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, nhấn mạnh: “Mỗi vùng chịu ảnh hưởng theo cách riêng. Tác động của BĐKH đến vùng duyên hải Trung Bộ chủ yếu là về tài nguyên đất, tài nguyên nước và kinh tế biển. Nước biển dâng làm mất đi một phần đáng kể diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất dân cư ven biển. BĐKH kéo theo bão tố, lũ lụt, hạn hán, xói lở, xâm nhập mặn gia tăng gây thêm nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp vốn đã rất khó khăn ở miền Trung.
BĐKH gây nhiều trở ngại cho các ngành kinh tế biển bao gồm đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, nghề muối, du lịch biển. Xét về tổng thể cả về tác động của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lẫn cơ sở hạ tầng và các ngành kinh tế - xã hội thì khu vực chịu tác động mạnh nhất của BĐKH là hai đồng bằng lớn và khu vực duyên hải Trung Bộ”.
Việc phòng tránh, giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH là vấn đề toàn cầu, đòi hỏi sự đầu tư khoa học và tài chính rất lớn mà một quốc gia nghèo khó có thể đảm đương được. Vậy chúng ta có nên để các nước giàu có và phát triển gánh vác trách nhiệm này?
Tiến sĩ Ngyễn Văn Thắng khẳng định: “Chúng ta không nên chờ đợi các nước lớn cho dù chính họ phát thải khí nhà kính nhiều hơn cả. Nguyên nhân của BĐKH là từ khí thải nhà kính mà các nước công nghiệp đi đầu phát thải ra. Chúng ta không phải là nước phát thải lớn mà lại chịu tác động của BĐKH. Đúng ra trách nhiệm các nước lớn là phải giảm phát thải khí nhà kính. Còn những nước nhỏ như chúng ta bị thiệt hại, là nạn nhân. Bản thân các nước lớn cũng bị thiệt hại do BĐKH, tất nhiên người ta cũng quan tâm. Tuy nhiên kinh tế người ta mạnh nên thiệt hại của họ dù lớn nhưng so với tỷ trọng của GDP thì vẫn chưa ăn thua. Trong khi ở các nước nhỏ, nước nghèo như chúng ta thì sự ảnh hưởng tới GDP là rất lớn, vậy nên chúng ta phải chủ động trong việc phòng tránh, nhấn mạnh tới việc thích ứng với BĐKH”.
Dự báo và các giải pháp giảm nhẹ thiên tai
Giáo sư, Tiến sĩ Phan Văn Tân, chuyên gia về BĐKH, Trường ĐH Quốc gia HN, cho biết: “Ngày xưa ta gọi khoa học là then chốt, còn bây giờ nói khoa học là rất quan trọng, là chìa khóa mở đường cho mọi sự hiểu biết. Nếu như chúng ta không có những thông tin dự báo hạn ngắn, hạn dài chính xác thì khó mà phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Đối với dự báo thời tiết chẳng hạn chúng ta có thể lường trước được vài ba ngày hoặc cùng lắm là một hai tuần.
Nhưng dự báo với khí hậu thì lẽ ra chúng ta phải biết trước vài ba tháng hoặc một năm thì thông tin đó sẽ rất hữu ích cho việc lập các kế hoạch, những phương án ứng phó với những khả năng có thể xảy ra đối với thời tiết cực đoan.
Bên cạnh việc dự báo thì về lâu dài các giải pháp chiến lược giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH ở Việt Nam, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng là: Giảm phát thải khí nhà kính. Cần tích cực, khẩn trương thực hiện biện pháp này, cần phải có ý chí mạnh mẽ vượt lên trên những tính toán về tài chính; Cùng với cộng đồng thế giới Việt Nam có thể thực hiện nhiều biện pháp giảm nhẹ BĐKH trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, y tế và du lịch; Tiết kiệm năng lượng, khai thác các nguồn năng lượng mới thân thiện với môi trường; Quản lý tổng hợp lưu vực và tài nguyên nước. Củng cố, nâng cấp đê điều ven sông, biển. Tăng cường nhận thức cộng đồng về BĐKH và thích ứng với BĐKH.
Trần Quang Vinh