Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Lương Phương Hậu (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) là chuyên gia đầu ngành về vấn đề chỉnh trị sông ở nước ta. Ông là người chủ nhiệm đề tài khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ cho hệ thống công trình chỉnh trị sông trên các đoạn trọng điểm vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Tamnhin.net trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của Giáo sư Lương Phương Hậu về vấn đề chỉnh trị sông ở Việt Nam.
Trong bốn đại họa đối với con người: thủy, hỏa, đạo, tặc thì thủy tai vẫn đứng hàng đầu. Do đó, con người phải tiến hành không ngừng những cuộc chiến đấu hoặc thương lượng với sông nước để "hưng lợi" và "trừ hại".
Xã hội càng phát triển, kinh tế càng mở mang thì những yêu cầu đối với sông nước ngày càng cao. Nhu cầu phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đặt ra nhiều nhiệm vụ mới cho chỉnh trị sông.
Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) được bảo vệ bởi 2 loại đê. Trong đó gồm 3.000 km đê ngăn lũ của hệ thống sông và 1.500 km đê biển ngăn triều và sóng lớn của các cơn bão. Hệ thống kè gia cố bờ, mỏ hàn đã được xây dựng trên hầu hết các tuyến sông.
Theo số liệu thống kê của các địa phương, hiện nay trên các sông vùng ĐBBB có tới 165 đoạn sạt lở lớn với tổng chiều dài 252 km. Một điều thấy rõ là số lượng các đoạn sạt lở ngày một gia tăng, mặc dù đã có rất nhiều công trình chống sạt lở được xây dựng, một số đoạn sạt lở vẫn tồn tại 30-40 năm nay.
Trong vùng ĐBBB tổng chiều dài các đoạn sông có thể khai thác vận tải thủy khoảng 1.000 km, chia thành 3 hành lang chính, đều là tuyến luồng cấp quốc gia. Luồng lạch không ổn định, nhiều đoạn cong gấp, cạn, sự bồi lấp luồng lạch, bến cảng ngày một nghiêm trọng, khối lượng nạo vét mỗi năm một gia tăng trên tất cả các tuyến luồng.
Mực nước hạ thấp đã dẫn đến hạn hán cho ĐBBB. Hạn hán đã xảy ra 3 năm liên tiếp tại các tỉnh ĐBBB do mực trong vòng 100 năm lại đây. Trong khi đó hệ thống thuỷ lợi khu vực này lại hết sức già cỗi, không đáp ứng được tình hình mới do xây dựng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước. Do vậy, những năm gần đây, tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp liên tục xảy ra. Chỉ tính trong vụ Đông Xuân năm 2009 , vào thời kỳ cao điểm đã có gần 300.000 ha thiếu nước.
Mỏ hàn gia cố bờ sông
Trong khi đó ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), do sông sâu, bờ đất yếu, sạt lở thường xảy ra với quy mô lớn. Hơn nữa, ở ĐBSCL các đô thị, các điểm dân cư lớn thường bám sát các bờ sông, nên mỗi lần sạt lở là dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, cơ sở hạ tầng.
Hiện tại có hơn 13.000km đường sông sử dụng được vào vận tải cho phương tiện có chiều sâu chạy tàu từ 1m trở lên, trong đó hơn 6.000 km đã được đưa vào các cấp quản lý. Nhưng hiện tượng ách tắc giao thông do tầu nhiều luồng hẹp, sạt lở bờ do sóng tầu đang xẩy ra nghiêm trọng, đang là vấn nạn ở nhiều nơi, điển hình là trên Kênh Chợ Gạo, Tiền Giang .
Sông Tiền và sông Hậu ban đầu đổ ra Biển Đông qua 9 cửa, nên mới có tên gọi là Cửu Long, nhưng hiện nay cửa Bassac (gốc tiếng Khmer hay còn đọc theo tiếng Việt là cửa Ba Thắc) của sông Hậu đã bị bồi lấp, nên trên thực tế chỉ còn 8 cửa. Cửa Định An của sông Hậu có lưu lượng lớn nhất, nhưng tình trạng mất ổn định tuyến luồng và bồi lắng nghiêm trọng tại của sông này trong nhiều năm qua, làm hạn chế rất nhiều họat động giao thông thủy của các phương tiện biển có trọng tải trên 5.000 DWT, hạn chế lớn đến phát triển kinh tế xã hội của vùng đất quan trọng này.
Trong 50 năm qua mực nước biển ở ĐBSCL đã tăng 12 cm. Nếu nước biển dâng thêm 1 m thì khoảng 70% diện tích đất vùng này bị xâm nhập mặn, mất khoảng hai triệu ha đất trồng lúa. Nhiều địa phương sẽ bị chìm trong nước. Thời gian úng ngập có thể kéo dài từ 4-5 tháng, 38% diện tích đồng bằng bị nhấn chìm, 90% diện tích đồng bằng có thể bị nhiễm mặn. Nếu mực nước biển dâng 1m thì 24,7% diện tích đất tự nhiên của Cần Thơ bị ngập, tương đương 758 km2. Chịu thiệt hại nặng nề nhất trong khu vực là tỉnh Bến Tre - 50,1% diện tích đất bị chìm, tương đương 1.131 km2.
(còn tiếp)
Trần Quang Vinh (ghi)