Nguyên nhân của tình trạng này là do thị trường nhiều nước châu Âu đang lâm vào khó khăn về kinh tế, việc tiêu thụ cũng như khả năng thanh toán của nhóm thị trường này gặp khó khăn; mặt khác do nghỉ Tết dương lịch và Tết Nguyên đán Nhâm Thìn, thực tế hoạt giao dịch mua bán chỉ diễn ra trong khoảng 20 ngày của tháng 1, vì vậy dẫn tới sự sụt giảm kim ngạch XK thủy sản.
Mục tiêu trong năm 2012, ngành thủy sản cả nước phấn đấu XK đạt từ 6,5 – 6,7 tỷ USD, tăng 20 - 25% so với 2011. Trong đó, cá tra phấn đấu đạt từ 1,8 - 2 tỷ USD, tôm sẽ đạt 2,5 tỷ USD và XK các mặt hàng hải sản sẽ đạt mức 2 tỷ USD. Dự báo, nguồn nguyên liệu tôm và cá tra có thể sẽ ổn định hơn, nhưng nguồn nguyên liệu hải sản khó có thể tăng vì những khó khăn như nguồn lợi, thời tiết và các chi phí đánh bắt. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thủy sản sẽ bù đắp bằng lượng thủy sản nguyên liệu nhập khẩu về Việt Nam sản xuất gia công để XK. Xa hơn nữa, cộng đồng DN thủy sản Việt Nam bắt đầu hướng tới mục tiêu nêu ra trong Chiến lược Phát triển xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ là đến năm 2020 phấn đấu đạt giá trị xuất khẩu 10 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành 1 trong 4 cường quốc đứng đầu về XK thủy sản trên thế giới. Tuy nhiên, ngành thủy sản Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt với 3 thách thức lớn, cần có những giải pháp thích hợp và tích cực thì mới có thể đạt mục tiêu 10 tỷ USD. Đó là thách thức về thiếu nguyên liệu cho chế biến XK, thách thức về chất lượng – vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) - năng lực cạnh tranh và thách thức về phát triển thị trường XK.
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Vũ Văn Tám, để vượt qua những thách thức này, ngành thủy sản rất cần sự đầu tư hỗ trợ của Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước, sự chung tay của nông dân, ngư dân và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thực hiện các giải pháp như nâng cao sản lượng và mức độ chế biến sản phẩm thủy sản trong nước để tăng giá trị XK, đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu cho gia công XK; thiết lập hệ thống kiểm soát chuỗi, đảm bảo tính đồng bộ của các tiêu chuẩn, quy phạm, quản lý chất lượng, VSATTP trong tất cả các khâu sản xuất; đẩy mạnh xã hội hóa để nâng cao hiệu quả và trách nhiệm trong quản lý chất lượng, VSATTP của DN và người nuôi trong chuỗi sản xuất; tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thủy sản VN ra nước ngoài.
Trong năm 2012, vẫn sẽ là một năm có nhiều thách thức với ngành thủy sản do khó khăn chung của thế giới và trong nước. Cụ thể là những thị trường truyền thống có thể tiếp tục do sức mua giảm, các rào cản thương mại và rào cản kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh còn gặp nhiều khó khăn do hạ tầng và kiểm soát chất lượng vật tư đầu vào cho nuôi trồng thủy sản còn yếu kém, chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, chúng ta hy vọng năm 2012 có nhiều triển vọng mới như cơ cấu lại ngành và cơ cấu lại các sản phẩm, trong đó tập trung phát triển sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh và có hiệu quả cao, tập trung phát triển hàng giá trị gia tăng, lãi suất tín dụng có xu hướng giảm. Mặt khác, một số thị trường mới có triển vọng, trong khi thị trường truyền thống vẫn tiếp tục duy trì. Khi chúng ta có lợi thế là khả năng cạnh tranh về giá với chất lượng được kiểm soát tốt, áp dụng nhiều chứng chỉ đáp ứng được hệ thống phân phối cũng như người tiêu dùng.
Năm 2012, chúng ta cần chủ động hơn trong xúc tiến thương mại, truyền thông, tiếp tục quản lý, kiểm soát tốt chất lượng hàng xuất khẩu, chủ động tiến hành giải pháp tháo gỡ các rào cản đối với từng thị trường, từng vụ việc. Tìm hiểu kỹ hơn luật pháp quốc tế và các nước nhập khẩu, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực để ứng xử và giải quyết một cách hiệu quả. Chúng ta đã tham gia thị trường toàn cầu, tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh và rào cản. Mặt hàng thủy sản của chúng ta gặp nhiều rào cản chứng tỏ sức cạnh tranh mạnh. Năm 2010-2011, ta bị các rào cản phi thuế quan, kể cả một số thị trường bị bôi nhọ đối với mặt hàng thủy sản. Trong đó, có yếu tố thuộc về chủ quan như chúng ta chưa làm tốt công tác tuyên truyền, truyền thông, công tác xúc tiến thương mại chưa thực sự tốt, trong đó có việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm của chúng ta chưa tốt... Trong năm 2012, chúng ta phải nỗ lực làm tốt hơn công tác tuyên truyền, quảng bá, nhất là xây dựng thương hiệu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu không chỉ ở trong nước mà cả ở ngoài nước.
Năm 2011, sự biến động của thị trường, đặc biệt là thị trường truyền thống như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản đều có ảnh hưởng rất lớn do sức mua và rào cản. Tuy nhiên, không tới mức quá bi đát, do mặt hàng của chúng ta cạnh tranh tốt, vẫn là sự lựa chọn của người tiêu dùng, cho dù mức tăng vẫn chậm lại. Tuy thị trường truyền thống trong năm qua có khó khăn nhưng do chúng ta đã có nhiều thị trường mới bù lại như thị trường Trung Quốc và Hồng Kông, các nước ASEAN và các nước Trung Đông. Đây là hướng mới mở ra cho năm 2012, bên cạnh việc ta vẫn đi vào thị trường tuyền thống với chiều sâu hơn, bài bản hơn.
Con số xuất khẩu trên 6 tỷ USD trong năm 2011 là vượt mong đợi của toàn ngành, thể hiện bản lĩnh của doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam; và là bài học quý cho công tác chỉ đạo điều hành, trong phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, giữa Bộ NN&PTNT và Bộ Công thương, các bộ, ngành Trung ương với địa phương, đặc biệt là với VASEP, Hội Nghề cá Việt Nam, nó thể hiện ở sự phối hợp giải quyết vấn đề vướng mắc về thủ tục hành chính, những rào cản thương mại điều chỉnh những chính sách phù hợp... Đặc biệt là tạo ra sự liên kết hiệu quả giữa người sản xuất nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Thành quả này có ý nghĩa như cú huých, tạo đà cho năm 2012 và những năm tiếp theo và nếu tiếp tục xu hướng phát triển này mục tiêu đặt ra là 8 tỷ USD cho năm 2015 và 10 tỷ USD năm 2020 là có thể đạt và vượt.
Vũ Xuân
Ảnh: Internet