(Tamnhin.net) - Tại buổi tọa đàm “Bối cảnh quốc tế sau khủng hoảng tài chính thế giới và ảnh hưởng đến Việt Nam” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW tổ chức, GS-TS Hansjorg Herr (Trường ĐH Kinh tế - Luật Berlin) đã cảnh báo: "Không phải mọi luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đều là tích cực. Nên coi luồng vốn FDI vào lĩnh vực bất động sản là đáng nghi ngại. Điều này có thể góp phần tạo nên bong bóng thị trường bất động sản và làm nền kinh tế mất ổn định".
 |
|
Việc dòng vốn FDI chảy vào BĐS có thể góp phần tạo nên bong bóng trên thị trường BĐS. Ảnh: Thu Hằng
|
GS Herr liên tưởng đến diễn biến trước cuộc khủng hoảng châu Á 1997 cũng được đặc trưng từ các dòng vốn FDI lớn chảy vào lĩnh vực bất động sản. Ông cho rằng, đầu tư ở lĩnh vực bất động sản thì không nên cho FDI nhảy vào, bởi không phải tất cả các dự án đầu tư nước ngoài đều mang lại sự tích cực cho nền kinh tế, chẳng hạn như đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản, người Việt Nam hoàn toàn có thể tự xây nhà cho mình. Trong một số trường hợp, đầu tư nước ngoài chỉ là thay đổi sở hữu đối với các dự án, điều này cũng không tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
GS.TS Hansjorg Herr nhận định, chúng ta đã để cho dòng vốn FDI tập trung quá nhiều vào lĩnh vực BĐS mà không đầu tư vào sản xuất công nghiệp, điều này sẽ dẫn đến nền kinh tế không có sự phát triển trong dài hạn.
Đánh giá về vấn đề này, TS Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW cho rằng, giới nghiên cứu hiện cũng rất lo ngại về vấn đề điều tiết vốn FDI, nhất là dòng vốn này chảy vào lĩnh vực bất động sản như GS Herr cảnh báo. Việc dòng vốn FDI chảy quá nhiều vào BĐS trong khi lại rất hạn chế trong việc đầu tư vào sản xuất là mối hiểm nguy tiềm ẩn đối với nền kinh tế, chính vì vậy, nhất thiết phải có sự chọn lọc, giám sát chặt chẽ đối với FDI.
Theo kinh nghiệm của GS.TS Hansjorg Herr, thông thường cứ sau mỗi làn sóng vốn lại có một đợt khủng hoảng. Trong khi đối với một nước có thặng dư vãng lai sẽ rất khó lâm vào khủng hoảng. Quan sát này đem lại cho chúng ta một cảnh báo lớn về nguy cơ khủng hoảng khi tiếp nhận đồng vốn đầu tư nước ngoài một cách quá dễ dãi đồng thời tự do hóa thị trường vốn sẽ không mấy tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Nhìn nhận thực tế trong thời gian qua, TS. Nguyễn Đình Cung thừa nhận: “Ở Việt Nam trong khoảng 5 năm trở lại đây, thâm hụt vãng lai luôn ở mức cao. Đáng tiếc là chúng ta luôn giải thích hiện tượng đó một cách khá dễ dãi như: thiếu vốn cho phát triển; ưu tiên phục vụ công nghiệp hóa nên thâm hụt vãng lai là đương nhiên… Đó đều là những cách giải thích thiếu cơ sở và cũng thiếu trách nhiệm, trong khi nguyên nhân sâu xa hơn lại không được nhìn nhận.”
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có những tác động tích cực về sự kỳ vọng cho công nghệ cũng như kỹ năng quản lý cho chúng ta nhưng thực tiễn những tác động đó không tự nhiên diễn ra. Vấn đề là Việt Nam phải chủ động tiếp thu công nghệ bằng cách có sự ràng buộc về chuyển giao công nghệ trong việc tiếp nhận dòng vốn FDI.
“Trong mối quan hệ giữa cán cân vãng lai, tăng trưởng, việc làm, muốn tăng trưởng không chỉ dựa vào tiết kiệm trong nước mà còn phải dựa vào tiết kiệm của nước ngoài, mô hình tăng trưởng này đương nhiên sẽ dẫn đến thâm hụt vãng lai. Điều quan trọng là cần phải tư duy lại vai trò của FDI đồng thời nhấn mạnh hơn về công nghệ. Cần phải đặt công nghệ lên làm tiêu chí hàng đầu trong việc xem xét cấp phép đối với dự án FDI.” – TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.
Hiền Như